menu search
Đóng menu
Đóng

Nuôi tôm biển ở Châu Á năm 2009: xu hướng và sản lượng

16:46 17/05/2010
Nhìn chung, sản lượng tôm nuôi ở châu Á tăng , mặc dù xảy ra dịch bệnh , giá bán thấp và đổ vỡ tín dụng.

Ứớc tính sản lượng tôm nuôi năm 2009 của châu Á đạt 2,83 triệu tấn, trong đó có 2,307 triệu tấn tôm chân trắng (Penaeus vannamei) và 522.000 tấn tôm sú (P.monodon).
Năm 2007, khi tổng sản lượng tôm nuôi của thế giới là 3,193 triệu tấn, châu Á đã đóng góp 2,74 triệu tấn. Sang năm 2008, các con số tương ứng là 3,065 triệu tấn và 2,611 triệu tấn.

Dưới đây là một vài xu hướng về sản lượng tôm nuôi năm 2009 tại một số quốc gia nuôi tôm chủ yếu ở châu Á và triển vọng của năm 2010 (Các số liệu và nhận định trong bài được lấy từ các cơ quan hữu quan và những trao đổi thông tin cá nhân - ND)

Trung Quốc

Năm 2007 và 2008, Trung Quốc sản xuất 1,22 triệu tấn tôm, trong đó 88% là tôm chân trắng và 52% sản lượng tôm chân trắng được nuôi ở vùng nước nội địa.
Năm 2009, ước tính Trung Quốc đạt sản lượng 1,2 triệu tấn tôm chân trắng, trong đó có 560.000 tấn nuôi trong các ao ven bờ. Sản lượng nuôi tôm sú và các loài khác trong họ tôm He (Penaeidae) như P.chinensis và P. japonicus là 150.000 tấn. Năng suất nuôi tôm chân trắng ở Quảng Đông trung bình từ 8-10 tấn/ha/vụ, mật độ thả giống 120-180 PL/m2.

Năm 2010, Trung Quốc sẽ tăng 20% diện tích nuôi tôm, do vậy ước tính tổng sản lượng tôm nuôi sẽ đạt 1,45 triệu tấn.

Thái Lan

Sản lượng tôm nuôi ước tính của Thái Lan năm 2009 nằm trong khoảng từ 520.000 đến 537.000 tấn. Năng suất cao từ 11,5-12 tấn/ha khi thả giống với mật độ 80-85 PL/m2. Việc áp dụng các biện pháp an ninh sinh học và sử dụng con giống sạch bệnh đã làm giảm tỷ lệ dịch bệnh xảy ra ở tôm nuôi. Người nuôi thường xuyên quản lý tốt quá trình nuôi tôm trong chương trình nuôi có sục khí và sử dụng con giống có tốc độ tăng trưởng nhanh. Hệ số thức ăn thấp hơn làm giảm chi phí sản xuất, nhưng quan trọng hơn là phương pháp tiếp cận thân thiện với môi trường đang đưa đến những quy trình nuôi tôm bền vững hơn.
Cục Nghề cá Thái Lan đã ban hành kế hoạch chiến lược từ năm 2010 đến 2012, trong đó có nhiều quy định mới cả về trách nhiệm xã hội và phúc lợi của nghề nuôi tôm, đồng thời đặt ra mức tăng trưởng 5% sản lượng hằng năm, đạt 525.000 tấn năm 2010, tăng lên 551.000 tấn năm 2011 và 578.000 tấn năm 2012.
Việt Nam

Từ cuối năm 2008 sang năm 2009, sản lượng tôm sú ước giảm khoảng 40%. Nhiều nông dân đã bỏ nghề nuôi tôm vì giá thấp, dịch bệnh và thiếu vốn đầu tư. Mật độ thả giống giảm từ 10-30 PL/m2 trong vụ nuôi đầu xuống còn 10-20 PL/m2 ở vụ nuôi thứ hai vào tháng 7-8. Việc nuôi tôm chân trắng tiếp tục diễn ra ở các tỉnh miền bắc và miền trung. Vào quý 3 năm 2009, người nuôi đã thả giống với mật độ 100-130 PL/m2, năng suất đạt 8-12 tấn/ha/vụ.

Inđônêxia
Sản lượng tôm nuôi của Inđônêxia giảm, do bị mất tới 40% sản lượng ở Lampung hồi giữa năm 2009, ước chỉ đạt 345.000 tấn. Năm 2010, với việc khôi phục lại sản xuất từ các vùng nuôi tôm bị dịch bệnh ở Lampung, Medan và Đông Java, dự tính sản lượng sẽ tăng lên 265.000 tấn tôm chân trắng và 120.000 tấn tôm sú.

Việc nuôi tôm sú sẽ được tài trợ để phục hồi các ao nuôi bị bỏ hoang ở Nam Sulawesi nhằm mục tiêu tăng trưởng 10,42% sản lượng tôm sú hằng năm khi sử dụng các hệ thống nuôi quảng canh tổng hợp. Năng suất nuôi trung bình đạt 6-9 tấn tôm chân trắng /ha/vụ với mật độ nuôi 120 PL/m2 và 1,5-2 tấn tôm sú/ha/vụ với mật độ nuôi 10-20 PL/m2.

Malaixia
Năm 2009, sản lượng tôm nuôi hy vọng đạt 85.000 tấn, tuy nhiên có thông tin cho thấy sản lượng ước chỉ đạt 78.000 tấn, trong đó chỉ có 6.000 tấn tôm sú, còn lại là tôm chân trắng. Năng suất nuôi tôm chân trắng trung bình từ 8-10 tấn/ha với mật độ nuôi 80-120 PL/m2. Nước này đã có kế hoạch nuôi trở lại tôm sú, sử dụng tôm giống NK sản xuất từ nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh.

Ấ n Độ

Ngành thuỷ sản Ấn Độ bi quan vì sản lượng tôm nuôi năm 2008 chỉ đạt 70.000 tấn. Năm 2009 đạt 80.000 tấn. Tuy nhiên, có thông tin lạc quan ước tính sản lượng tôm nuôi năm 2009 của Ấn Độ là 95.000 tấn.

Mặc dù cơ quan thẩm quyền về NTTS ven bờ của Ấn Độ đã cho phép 24 trại giống được NK giống tôm chân trắng nhưng ước tính sản lượng tôm chân trắng năm 2009 chỉ khoảng 5.000 tấn. Sản lượng tôm nuôi của Ấn Độ thấp vì giảm diện tích vùng nuôi, mật độ thả giống (5-10 PL/m2) và số vụ nuôi, và vì thất bại do dịch bệnh, chủ yếu là bệnh đốm trắng. Sắp tới, hoạt động nuôi tôm có thể lại được tiếp tục tại vùng nuôi tôm chính của Ấn Độ ở bang Andhra Pradesh trong các ao nuôi đã bị bỏ hoang, sử dụng tôm giống từ nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh của cả 2 loài tôm sú và tôm chân trắng.

Năm 2010, việc tăng sản lượng tôm sú nuôi ở Ấn Độ sẽ phụ thuộc vào khả năng cung cấp tôm bố mẹ sạch bệnh từ Haoai. Ấn Độ lạc quan rằng sản lượng tôm chân trắng sẽ dễ dàng tăng lên 8.000 tấn. Mục tiêu của Ấn Độ đến năm 2012 sẽ đạt 160.000 tấn tôm biển, trong đó sản lượng tôm sú và tôm chân trắng ngang nhau.
Philippin
Năm 2008, sản lượng tôm nuôi của Philippin là 54.000 tấn, sang năm 2009 giảm, ước chỉ đạt 35.000 tấn. Năm 2010, sản lượng ước tăng đôi chút, lên 37.000 tấn, nhờ tăng sản lượng tôm chân trắng.

Tháng 12/2009, Cục Nghề cá và Nguồn lợi thuỷ sản Philippin đã nâng thời hạn cấm NK tôm sú bố mẹ và tôm sú giống lên 8 năm, với mong muốn nước này có chỗ đứng trên thị trường XK đối với giống tôm sú bản địa. Tôm sú hiện được bán với giá 800 pêsô/kg (17,16 USD) trong khi giá tôm chân trắng từ 200-250 pêsô/kg (4,29-5,36 USD).

(Vietfishinternational)