Tại Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010 (ban hành năm 2001), Chính phủ đặt mục tiêu đến năm 2005 sẽ đạt sản lượng 1,2 – 1,4 triệu tấn phôi thép, 2,5 – 3,0 triệu tấn thép cán các loại, 0,6 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán. Còn đến năm 2010, kế hoạch đặt ra sẽ đạt mức: sản xuất 1,8 triệu tấn phôi thép, 4,5 – 5,0 triệu tấn thép cán các loại, 1,2 và 1,5 triệu tấn sản phẩm thép gia công sau cán.
Phá kỷ lục… dự báo!
Về cơ bản, ngành thép đã phát triển đúng kế hoạch, đạt được những chỉ tiêu trên đúng thời gian xác định. Trừ một số chỉ tiêu… then chốt! Chẳng hạn, đến năm 2007, sản lượng phôi thép sản xuất trong nước mới đạt trên 782.000 tấn - thấp hơn so với mức phải đạt được theo kế hoạch vào năm 2005. Còn thép cán cả năm 2007 đạt 2,2 triệu tấn – cũng thấp hơn cả mức phải đạt được vào năm 2005. Cần phải nói rõ là sản lượng phôi thép và thép cán trong nước của cả năm 2007 đã tăng hơn 10% - 14% so với năm 2006. Trong khi đó, lượng thép tiêu thụ của cả năm 2007 đã đạt 10,3 triệu tấn – tăng tới 42% so với năm 2006. Mức tăng này đã phá vỡ mọi dự báo về tăng trưởng – đưa Việt Nam trở thành thị trường có mức tiêu thụ thép cao nhất khu vực Đông Nam Á.
Năm 2007 cũng ghi nhận bình quân tiêu thụ thép của Việt Nam đã gần tiệm “ngưỡng” 100kg thép/người/năm - mức được nhiều chuyên gia khẳng định là điểm đầu trong giai đoạn cất cánh của công nghiệp quốc gia. Nhưng dường như, điều này sẽ không có nhiều ý nghĩa với thực tế tại Việt Nam! Vì với 8,1 triệu tấn thép tiêu thụ trong năm 2007 được cung ứng từ các nguồn không phải sản xuất trong nước, đã làm sai lệch hẳn theo hướng… nhập phôi thép! Và, phần lớn sản lượng là thép xây dựng, thì rõ ràng thị trường thép Việt Nam đang phát triển một cách tự phát.
Tốc độ tăng sản lượng sản xuất trong nước đã không đáp ứng kịp nhu cầu tăng trưởng, đồng thời dự báo tốc độ tăng trưởng không chính xác, đã đẩy thị trường thép Việt Nam tới thực tế phụ thuộc vào nguồn thép nhập khẩu. Có nghĩa là tính chủ động trong chiến lược phát triển ngành và hoạch định thị trường đã suy giảm, bị hạn chế. Và, đó là thực tế không tốt, không bình thường của ngành thép Việt Nam, với tư cách là công nghiệp cơ bản, đóng vai trò thúc đẩy các ngành công nghiệp khác của nền kinh tế. Nói một cách hình tượng, nếu mục tiêu của Quy hoạch tổng thể phát triển ngành thép đến năm 2010 của Việt Nam là một đường thẳng thì thực tế phát triển để đi đến mục tiêu ấy lại mang dáng vẻ gấp khúc hình chữ z.
Ai làm chủ thị trường?
Bất chấp sự tăng trưởng của sản lượng sản xuất trong nước và sản lượng tiêu thụ, giá thép trên thị trường Việt Nam vẫn tăng với tốc độ phi mã. Trong 5 năm (2003 – 2008), giá thép tăng gấp đôi. Và chỉ trong vài tháng cuối năm 2007, đầu năm 2008, giá thép đã tăng tới 4 lần, lên tới ngưỡng 18 triệu đồng/tấn như hiện tại. Giá thép tăng gấp, không những làm các nhà thầu xây dựng, người tiêu dùng khốn đốn mà đã ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế vì nhà nước buộc phải bù giá vài nghìn tỷ đồng cho các nhà thầu, đồng thời yêu cầu khẩn trương ban hành quy chế mới xác định giá vật liệu xây dựng đảm bảo sát với diễn biến của thị trường.
Có không ít ý kiến đã khẳng định thép tăng giá là do phân phối thao túng. Hiệp hội Thép Việt Nam - với số hội viên hiện chiếm trên 80% sản lượng thép xây dựng - thừa nhận, hiện việc đầu cơ giá thép là có thật với hình thức găm hàng để chờ giá. Cũng theo Hiệp hội Thép, thực tế kinh doanh thép hiện tại chỉ bán qua đại lý đã tạo điều kiện cho giới kinh doanh thép có cơ hội thao túng giá. Thừa nhận này rõ ràng là nghiêm trọng. Vì Chính phủ đã chính thức có ý kiến yêu cầu các ngành chức năng phải tăng cường giám sát “xử lý nghiêm những vi phạm về liên kết độc quyền giá, nâng giá thép thành phẩm bất hợp lý” (Công văn 1609/VPCP-KTTH của Chính phủ ngày 14/3/2008).
Thừa nhận của Hiệp hội Thép và phản ứng của Chính phủ là sự khẳng định thực tế thị trường thép Việt Nam hiện nay đang chỉ do một số đầu mối phân phối thép làm chủ. Xa hơn, các nhà sản xuất thép Trung Quốc cũng đang chiếm lĩnh thị trường Việt Nam. Vì sản lượng thép thành phẩm nhập về Việt Nam từ Trung Quốc đang ngày càng gia tăng, đặc biệt là phôi thép. Với những điều chỉnh về thuế của chính phủ Trung Quốc trong thời gian gần đây, không ít doanh nghiệp Việt Nam đã công bố ý định, thậm chí nhập khẩu thép thành phẩm của Trung Quốc để sử dụng thay cho thép trong nước sản xuất. Và trong thời gian trước mắt, đó dường như là giải pháp kinh doanh có lợi nhất đối với doanh nghiệp.
Đới với các nhà quản lý và không ít doanh nghiệp, thực tế ấy là hạn chế, nhưng cũng lại là cơ hội để ngành thép trong nước phát triển. Bằng chứng là có hàng loạt dự án, với số vốn đầu tư lên tới hàng tỷ USD công bố sẽ đầu tư sản xuất phôi, các loại thép thành phẩm tại Việt Nam. Mà tín hiệu đầu tiên chính là việc công bố sản xuất thành công thép tấm cán nóng tại cụm công nghiệp thép Cửu Long Vinashin (Hải Phòng). Đây là cụm công nghiệp thép được xây dựng từ năm 2004 với số vốn đầu tư lên tới 1.400 tỷ đồng. Sản lượng của cụm công nghiệp này đủ đáp ứng tới 20% nhu cầu thép tấm mỗi năm của Việt Nam – loại sản phẩm từ trước đến nay doanh nghiệp trong nước hoàn toàn phải nhập khẩu. Cái được nữa là với việc tổ chức cụm công nghiệp thép này thành 6 nhà máy hoàn chỉnh, khép kín từ khâu luyện phôi thép đến cán thép thành phẩm và chế tạo thiết bị, khí công nghiệp… mô hình này sẽ không những đảm bảo sự chủ động trong quản lý sản xuất mà còn đảm bảo khai thác tối đa các giá trị gia tăng từ các loại sản phẩm thép. Xa hơn, điều đó cũng có nghĩa là nhà sản xuất sẽ nắm được quyền chủ động kinh doanh trên thị trường thép.
Nguồn:Diễn đàn doanh nghiệp