 Những phát hiện của nghiên cứu trên - được đăng tải trên tạp chí Conservation Biology - cho biết, một số loài cá Nhám ở khu vực Địa Trung Hải đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng, đặc biệt nếu mức độ sức ép khai thác như hiện nay còn tiếp diễn.
Francesco Ferretti, tác giả chính của nghiên cứu cùng các đồng tác giả lo ngại rằng, sự sụt giảm về trữ lượng cá Nhám có thể tác động tới hệ sinh thái biển ở khu vực Địa Trung Hải. Những thay đổi này là không thể dự đoán trước được và chưa được nhận thức một cách sâu sắc, nhưng là nguyên nhân của sự sụt giảm về số lượng các loài cá Nhám ở Địa Trung Hải và có lý do để lo ngại thực sự về hệ quả của nó.
Theo thống kê có 47 loài cá Nhám ở khu vực Địa Trung Hải, trong đó có 20 loài được coi là những loài động vật ăn thịt quan trọng hàng đầu. Các tác giả nghiên cứu chỉ có đủ thông tin để đánh giá tình trạng của 5 trong số 20 loài cá Nhám lớn ở khu vực này.
Trong số các loài được phân tích, hầu hết các loài cá Nhám lớn đã sụt giảm về trữ lượng bởi hoạt động đánh bắt không được quản lý ở những ngư trường khai thác mở, cá Nhám trở thành mục tiêu khai thác và sức ép dân số ở những khu vực ven biển. Hiện nay không có giới hạn đánh bắt đối với các loài cá Nhám được khai thác thương mại ở khu vực này.
Cá nhám là loài rất dễ bị tổn thương nếu bị khai thác quá mức và chậm phục hồi trữ lượng do chúng có tốc độ tăng trưởng chậm, trưởng thành muộn và sinh sản ít.
Kích thước trung bình của cá Nhám được đánh bắt ở khu vực Địa Trung Hải là thấp nhất trên thế giới.
Nghiên cứu phát hiện rằng, kích thước và trọng lượng cá Nhám ở đây đã giảm theo thời gian, điều này cho thấy hiện nay những con cá nhám đang được đánh bắt là chưa đến tuổi trưởng thành.
Margaret Bowman, Giám đốc Chương trình Lenfest Ocean phát biểu: “Nghiên cứu này đóng góp quan trọng cho nhận thức của chúng ta về mức độ ảnh hưởng của những sức ép đang đe doạ các loài cá Nhám. Chúng ta vẫn chưa nhận thức đầy đủ về hậu quả của sự mất mát những loài động vật ăn thịt quan trọng hàng đầu ở khu vực Địa Trung Hải”.
Tuy nhiên, việc thiết lập và thực hiện một chương trình giám sát toàn diện về hoạt động khai thác ở khu vực Địa Trung Hải không dễ dàng bởi tính chất thủ công của nghề khai thác nhỏ, mang tính cục bộ và một số lượng lớn các nước tiếp giáp vùng biển này. |