5 nhóm hàng Việt Nam xuất vào Nhật có giá trị cao theo thứ tự gồm: dệt may, dây điện và dây cáp điện, máy móc thiết bị phụ tùng khác, hải sản, máy vi tính và linh kiện
Theo báo cáo của Tổng Cục Thống Kê Việt Nam (GSO), trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật năm 2010 đạt 7,7 tỷ USD, tăng 22% so với năm 2009 ( đạt 6,3 tỷ USD); trị giá nhập khẩu hàng Nhật vào Việt Nam năm 2010 đạt 9 tỷ USD. Nhật Bản là đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.
Năm 2010, 5 nhóm hàng Việt Nam xuất vào Nhật có giá trị cao gồm: Hàng dệt may 1,15 tỷ USD, dây điện và dây cáp điện 920 triệu USD, máy móc thiết bị phụ tùng khác 903 triệu USD, hải sản 894 triệu USD, máy vi tính và linh kiện 411 triệu USD. Trong đó, Nhật là thị trường lớn số 1 của hàng dây điện và dây cáp điện và nhóm hàng máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng; là thị trường lớn thứ 2 của nhóm Hải sản, và hàng dệt may; thị trường lớn thứ 3 của hàng máy vi tính và linh kiện.
Mặc dù các nhóm hàng khác không chiếm giá trị không cao nhưng là thị trường chính của một số hàng xuất Việt Nam như: Hóa chất và các sản phẩm hóa chất; các sản phẩm từ chất dẻo, từ cao su, từ sắt thép; gỗ và sản phẩm gỗ; rau quả; gốm sứ…..
Trong nhóm hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, cao su (trừ nhóm sản phẩm làm từ cao su) xuất sang Nhật hàng năm không lớn và Nhật là thị trường lớn thứ 10 của cao su Việt Nam. Tuy nhiên, thảm họa tại Nhật và bất ổn chính trị tại Trung Đông đã tác động làm giá cao su thế giới giảm nhanh điều này ít nhiều sẽ ảnh hưởng đến kế hoạch kinh doanh của các doanh nghiệp xuất khẩu cao su Việt Nam.
Xếp hạng giá trị từng loại hàng xuất vào thị trường Nhật năm 2010– chỉ xét Nhật trong top 10 thị trường lớn:
|
Thứ hạng thị trường
|
Nhóm hàng
|
|
Số 1
|
Phương tiện vận tải và phụ tùng
|
|
Dây điện và dây cáp điện
|
|
Máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng
|
|
Sản phẩm hóa chất và Hóa chất
|
|
Giấy và các sản phẩm về giấy
|
|
Gốm sứ
|
|
Sản phẩm từ cao su, sản phẩm từ chất dẻo
|
|
Số 2
|
Hàng dệt may
|
|
Hải sản
|
|
Rau quả
|
|
Gỗ và sản phẩm gỗ
|
|
Sản phẩm mây tre cói và thảm
|
|
Sản phẩm từ sắt thép
|
|
Than đá,
|
|
Chất dẻo
|
|
Thủy tinh và các sản phẩm thủy tinh
|
|
Túi xách, ví, Vali, ô dù, mủ
|
|
Số 3
|
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
|
|
Máy tính và linh kiện
|
|
Quặng sắt và khoáng sản khác
|
|
Số 4
|
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm
|
|
Số 6
|
Cà phê
|
|
Sắn và các sản phẩm từ sắn
|
|
Số 7
|
Dầu thô
|
|
Số 10
|
Cao su
|
|
Giày dép các loại
|
5 nhóm hàng Nhật nhập vào Việt Nam gồm: máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng 2,6 tỷ USD, sắt thép các loại 1,2 tỷ USD; máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện 1 tỷ USD; sản phẩm chất dẻo 402 triệu USD; linh kiện và phụ tùng ô tô 400 triệu USD.
Vẫn còn sớm để đưa ra những kết luận về tác động của thảm họa Nhật Bản đến các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, nhưng có thể thấy được các doanh nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng thông thường sang thị trường này sẽ gặp khó khăn do sự mất mát về người và tiết kiệm chi tiêu.
Ngoài ra, các doanh nghiệp Việt Nam có thể đối mặt với những rủi ro trong thanh toán cho các lô hàng đã xuất đi Nhật có đối tác trong vùng bị thảm họa. Các doanh nghiệp gia công hàng dệt may xuất sang Nhật sẽ phải tìm kiếm đơn hàng, tìm kiếm thị trường thay thế, thay đổi tiêu chuẩn cho phù hợp với thị trường mới….
Tuy nhiên, một câu hỏi đặt ra, sau thảm họa, hệ thống cảng và đường xá bị phá hủy, Nhật Bản phải đối mặt với việc khôi phục lại hạ tầng, xây dựng, hệ thống điện trong gia đình, vậy nhóm hàng nào sẽ có cơ hội có những đơn hàng đột biến xuất sang Nhật?
Internet
Nguồn:Vinanet