menu search
Đóng menu
Đóng

Hàn Quốc – đối tác thương mại hàng đầu tại khu vực Châu Á – Thái Bình Dương của Việt Nam

15:40 12/04/2012

Được thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 22/12/1992, đến nay Việt Nam – Hàn Quốc đã trở thành đối tác quan trọng của nhau. Hợp tác kinh tế song phương chiếm vị trí hết sức quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc. Hàn Quốc luôn là một trong mười đối tác quan trọng của Việt Nam, cả về đầu tư và thương mại. Việt Nam cũng là đối tác quan trọng của Hàn Quốc ở Đông - Nam Á.
 
 

(VINANET)

Theo số liệu từ TCHQ Việt Nam, hai tháng đầu năm 2012, Việt Nam đã xuất khẩu 763 triệu USD sang Hàn Quốc tăng 1,9% so với cùng kỳ năm trước, tính riêng tháng 2/2012 xuất khẩu sang thị trường này tăng 20,36% so với tháng cuối năm 2011, đạt 387,8 triệu USD.

Các mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Hàn Quốc hai tháng đầu năm nay là dệt may, phương tiện vân tải và phụ tùng, hàng thủy sản, xơ sợi, gỗ và sản phẩm… trong đó hàng dệt may chiếm tỷ trọng cao nhất, chiếm 22,5%, đạt 172,3 triệu USD, tăng 55,1% so với 2 tháng năm 2011. Tính riêng tháng 2/2012, xuất khẩu hàng dệt may sang thị trường này tăng 20,36% so với tháng 12/2011, tăng 20,36%.

Tham khảo giá xuất khẩu một số chủng loại hàng dệt may xuất sang Hàn Quốc hai tháng năm 2012

Chủng loại

ĐVT

Đơn giá (USD)

Cảng, cửa khẩu

PTTT

áo jacket nam có mũ ( 2 lớp)

chiếc

65,32

Cảng Hải Phòng

FOB

áo jacket nữ có mũ ( 2 lớp)

chiếc

61,94

Cảng Hải Phòng

FOB

Vỏ chăn 220x240

chiếc

50,30

Cảng Hải Phòng

FOB

Khăn bàn 130x180

chiếc

28,50

Cảng Hải Phòng

FOB

Quần dài nam 1 lớp (vải 100% nylon)MH:CS1-YM8204,Size:L

cái

25,46

Sân bay Tân Sơn Nhất (Hồ Chí Minh)

FOB

áo vest nữ 2 lớp

chiếc

24,18

Cảng Hải Phòng

FOB

Quần dài nữ 1 lớp

chiếc

24,18

Cảng Hải Phòng

FOB

áo thun nam ( Size: 100) - HAZZYS - HZE02B347

cái

12,14

ICD Tây Nam (Cảng Saigon KV IV)

FOB

áo thun nữ (Size: 85) - HAZZYS - HZE02B330

cái

11,00

ICD Tây Nam (Cảng Saigon KV IV)

FOB

Năm 2012, xuất khẩu hàng dệt may sang Hàn Quốc dự kiến sẽ vượt ngưỡng 1 tỷ USD, đưa nước này trở thành thị trường trọng điểm lớn thứ 4 của dệt may Việt Nam, sau Mỹ, EU, Nhật Bản. Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) cho biết, kim ngạch xuất khẩu 1 tỷ USD hàng dệt may sang Hàn Quốc trong năm nay là hoàn toàn trong tầm tay.

Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy, xuất khẩu dệt may Việt Nam sang thị trường Hàn Quốc năm 2011 đạt trên 904 triệu USD, tăng 145% so với năm 2010 - mức tăng cao nhất từ trước tới nay.

Không chỉ riêng hàng dệt may, mà xuất khẩu nhiều ngành hàng khác như da giày, đồ gỗ, cũng sẽ được cải thiện trong thời gian tới, khi Hiệp định Thương mại tự do (FTA) giữa Việt Nam và Hàn Quốc được ký kết.

Cùng với gia tăng kim ngạch xuất khẩu sang Hàn Quốc, những năm qua, ngành dệt may còn thu hút nhiều nhà đầu tư Hàn Quốc. Theo số liệu của Vitas, Hàn Quốc hiện là quốc gia đầu tư lớn vào ngành dệt may Việt Nam, với khoảng 450 doanh nghiệp, tổng vốn đầu tư đăng ký riêng trong lĩnh vực này khoảng 1,8 tỷ USD.

Đáng lưu ý, việc kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Hàn Quốc gia tăng mạnh có sự đóng góp đáng kể của một số doanh nghiệp có vốn đầu tư Hàn Quốc, như Kyung Bang, Pangrim, Hansae Việt Nam, Han-soll Việt Nam, Vina-Korea…

Được thiết lập quan hệ ngoại giao từ ngày 22/12/1992, đến nay Việt Nam – Hàn Quốc đã trở thành đối tác quan trọng của nhau. Hợp tác kinh tế song phương chiếm vị trí hết sức quan trọng trong quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc. Hàn Quốc luôn là một trong mười đối tác quan trọng của Việt Nam, cả về đầu tư và thương mại. Việt Nam cũng là đối tác quan trọng của Hàn Quốc ở Đông - Nam Á.

Mặc dù trong quan hệ hai nước còn tồn tại nhiều vấn đề, nhưng triển vọng quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc là sáng sủa bởi nó được xây dựng trên những cơ sở vững chắc.
Trong quan hệ đối ngoại, một trong những nhiệm vụ của Chính phủ Hàn Quốc là tăng cường ngoại giao kinh tế và thương mại để vượt qua khủng hoảng tài chính. Theo chủ trương mới, các cơ quan đại diện ngoại giao của Hàn Quốc ở nước ngoài sẽ chuyển mạnh theo hướng phục vụ nhiệm vụ kinh tế. Về phía Việt Nam, với mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, chúng ta chủ trương đưa các quan hệ hợp tác ngày càng đi vào chiều sâu, nhất là với các đối tác quan trọng trong đó có Hàn Quốc.

Về thương mại, kim ngạch buôn bán giữa hai nước chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng giá trị xuất nhập khẩu của mỗi nước với thế giới. Vì vậy giữa hai nước còn nhiều tiềm năng để phát triển quan hệ thương mại. Do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và mức độ phát triển kinh tế, hai nước có nhiều điều kiện để bổ sung cho nhau. Việt Nam là một thị trường tương đối lớn với dân số hơn 86 triệu người và kinh tế Việt Nam đang có tốc độ phát triển cao.

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế của mình, Việt Nam cần nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị hiện đại, các loại nguyên liệu vật liệu cho sản xuất. Ngược lại Hàn Quốc là nước phát triển, sản xuất và cung cấp được những máy móc, trang thiết bị hiện đại phù hợp với trình độ phát triển của Việt Nam và giá cả hợp lý. Việt Nam có vị trí địa lý ở trung tâm vùng Đông Nam Á.

Do vậy khi làm ăn với Việt Nam, các doanh nghiệp Hàn Quốc có thể mở rộng hoạt động của mình sang khu vực lân cận như Lào, Đông Bắc Thái Lan và đặc biệt là khu vực Tây Nam Trung Quốc- một khu vực chậm phát triển nhất của Trung Quốc với dân số khoảng 500 triệu người, nơi mà đường ra biển được rút ngắn một nửa nếu đi qua Việt Nam. Ngoài ra Việt Nam cũng cần nhập khẩu từ Hàn Quốc những công nghệ sản xuất tiên tiến, các loại hình dịch vụ như tư vấn, thiết kế mẫu mã...

Việt Nam luôn coi Hàn Quốc là đối tác thương mại hàng đầu ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Hiện nay Việt Nam đang cùng với 10 nước ASEAN đàm phán với Hàn Quốc về Khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA) và sơ bộ đã ký được một số văn kiện như Hiệp định khung, Hiệp định thương mại hàng hóa. Việc Hàn Quốc và các nước ASEAN trong đó có Việt Nam tạo lập khu vực mậu dịch tự do sẽ tạo điều kiện thúc đẩy hơn nữa trao đổi kinh tế-thương mại và mở rộng thị trường xuất khẩu và tăng cường thu hút đầu tư giữa hai nước. 
Về đầu tư, người dân Việt Nam ngày càng quen thuộc với những sản phẩm của các doanh nghiệp Hàn Quốc sản xuất tại Việt Nam với những tập đoàn có tên tuổi như LG, Samsung, Huyndai, Deawoo, SK…v.v. Với một môi trường đầu tư thân thiện, có hiệu quả và nhiều cơ hội đang chào đón quí Vị, Việt Nam mong muốn thu hút nhiều hơn nữa các nhà đầu tư Hàn Quốc vào những lĩnh vực mà Hàn Quốc có thế mạnh như công nghiệp chế biến, cơ khí chính xác, điện tử, hoá chất, công nghệ thông tin (IT), công nghệ sinh học, sản xuất vật liệu và năng lượng mới, dệt may và sản xuất giày da v.v…

Ngoài ra, tiềm năng hợp tác song phương trên các mặt như hàng không, du lịch, dịch vụ, trao đổi và hợp tác lao động là rất lớn. Khi sự hợp tác về các mặt này được mở rộng và khai thác triệt để, quan hệ kinh tế Việt Nam - Hàn Quốc sẽ lớn mạnh.

Mặc dù trong quan hệ hai nước còn tồn tại nhiều vấn đề, nhưng triển vọng quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt Nam - Hàn Quốc là sáng sủa bởi nó được xây dựng trên những cơ sở vững chắc.
Xuất khẩu sang Hàn quốc 2 tháng năm 2012

ĐVT: USD

 

KNXK T12/2011

KNXK T2/2012

KNXK 2T/2012

% +/- KN T2/2012 so T12/2011

Tổng kim ngạch

390.920.312

387.840.553

763.071.364

-0,79

hàng dệt, may

79.207.656

95.336.153

172.336.739

20,36

phương tiện vận tải và phụ tùng

6.523.616

41.052.791

143.994.808

529,30

Hàng thủy sản

48.139.541

28.896.400

61.856.313

-39,97

xơ, sợi các loại

16.250.475

22.804.765

37.139.832

40,33

gỗ và sản phẩm gỗ

14.329.322

10.636.759

31.021.129

-25,77

máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác

17.217.505

17.667.870

30.997.604

2,62

giày dép các loại

18.525.841

18.783.154

30.877.032

1,39

than đá

12.092.751

16.465.063

26.784.693

36,16

Cao su

8.192.569

11.346.976

17.929.965

38,50

máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

9.631.282

9.053.787

16.970.895

-6,00

xăng dầu các loại

7.404.364

7.482.082

15.400.268

1,05

Điện thoại các loại và linh kiện

7.170.487

6.628.693

12.909.102

-7,56

túi xách, ví, vali, mũ và ô dù

5.954.489

4.586.110

11.071.236

-22,98

cà phê

5.500.354

4.656.296

11.014.732

-15,35

sắn và các sản phẩm từ sắn

1.829.210

7.270.790

9.058.790

297,48

Kim loại thường khác và sản phẩm

1.999.966

6.101.304

8.719.609

205,07

sản phẩm từ sắt thép

4.172.944

4.178.162

7.813.439

0,13

sắt thép các loại

2.072.539

3.596.238

5.244.571

73,52

sản phẩm từ chất dẻo

2.407.507

2.722.727

4.415.846

13,09

dây điện và dây cáp điện

2.317.262

3.250.308

4.289.043

40,27

hóa chất

1.657.328

3.439.338

3.484.377

107,52

sản phẩm hóa chất

2.880.627

379.683

3.347.113

-86,82

sản phẩm từ cao su

1.327.657

2.141.292

3.148.103

61,28

bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

3.542.374

1.577.703

3.106.489

-55,46

hạt tiêu

1.680.446

868.323

2.026.347

-48,33

sản phẩm gốm, sứ

1.731.386

757.018

1.905.404

-56,28

hàng rau quả

694.220

1.279.221

1.781.377

84,27

giấy và các sản phẩm từ giấy

786.476

1.080.600

1.701.191

37,40

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

528.039

439.483

743.727

-16,77

sản phẩm mây, tre, cói và thảm

691.607

206.273

616.343

-70,17

đá quý, kim loại quý và sản phẩm

403.566

309.900

549.269

-23,21

chất dẻo nguyên liệu

362.248

231.959

376.178

-35,97

quặng và khoáng sản khác

2.350.721

208.000

358.000

-91,15

dầu thô

62.500.000

 

 

*

 

 

Nguồn:Vinanet