menu search
Đóng menu
Đóng

Kim ngạch xuất khẩu sang Thái Lan tăng trưởng về kim ngạch so với cùng kỳ

16:14 01/09/2011

VINANET - Theo số liệu từ TCHQ, tháng 7/2011, Việt Nam đã thu về 157,7 triệu USD từ thị trường Thái Lan, tăng 67,71% so với tháng 7/2010, nâng kim ngạch 7 tháng đầu năm xuất sang thị trường này lên 950,9 triệu USD, tăng 40,25% so với cùng kỳ năm trước.
 
 

VINANET - Theo số liệu từ TCHQ, tháng 7/2011, Việt Nam đã thu về 157,7 triệu USD từ thị trường Thái Lan, tăng 67,71% so với tháng 7/2010, nâng kim ngạch 7 tháng đầu năm xuất sang thị trường này lên 950,9 triệu USD, tăng 40,25% so với cùng kỳ năm trước.

Các sản phẩm chính Việt Nam xuất khẩu sang Thái Lan trong 7 tháng đầu năm nay là máy vi tính sản phẩm điện tử và linh kiện, điện thoại các loại và linh kiện, máy móc thiết bị dụng cụ phụ tùng, xơ sợi dệt, sắt thép, xăng dầu, thủy sản….Trong đó máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt kim ngạch cao, với 91,3 triệu USD chiếm 9,6% tỷ trọng trong tổng kim ngạch, tuy nhiên lại giảm so với 7 tháng năm 2010, giảm 18,06%. Tính riêng tháng 7, Việt Nam đã xuất khẩu 15,6 triệu USD mặt hàng này sang Thái Lan, tăng 14,33% so với tháng liền kề trước đó.

Nhìn chung, các mặt hàng xuất khẩu sang Thái Lan trong 7 tháng đầu năm đều tăng trưởng về kim ngạch so với cùng kỳ, chỉ có 3 mặt hàng giảm kim ngạch là sản phẩm từ cao su (giảm 8,07%); đá quý kim loại quý và sản phẩm (giảm 58,09%) và máy vi tính sản phẩm điện tử.

Đáng chú ý mặt hàng xăng dầu tuy kim ngạch trong 7 tháng đầu năm chỉ đạt 47,2 triệu USD, nhưng lại có sự tăng trưởng vượt bậc (tăng 2046,94%) so với cùng kỳ năm 2010.

Xuất khẩu sang Thái Lan 7 tháng năm 2011

ĐVT: USD

Mặt hàng

KNXK T7/2011

KNXK 7T/2011

KNXK 7T/2010

% tăng giảm KN so T7/2010

% tăng giảm KN so cùng kỳ

Tổng kim ngạch

157.733.248

950.972.220

678.077.779

67,71

40,25

máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

15.653.780

91.310.304

111.430.169

14,33

-18,06

Điện thoại các loại và linh kiện

18.314.238

78.692.723

 

*

*

máy móc, thiết bị dụng cụ phụ tùng khác

12.076.976

75.980.162

67.329.169

31,22

12,85

Xơ sợi dệt các loại

7.732.984

66.841.393

 

*

*

sắt thép các loại

14.897.798

65.384.662

23.552.534

223,87

177,61

xăng dầu các loại

426.924

47.250.327

2.200.818

112,99

2.046,94

Hàng thủy sản

7.519.753

46.787.754

34.787.618

30,44

34,50

phương tiện vận tải và phụ tùng

9.105.455

37.660.382

25.476.794

118,02

47,82

cà phê

16.436.530

31.796.450

5.278.000

838,31

502,43

dầu thô

 

31.432.034

51.124.896

*

-38,52

hàng dệt, may

3.430.366

23.922.337

10.352.291

86,47

131,08

than đá

2.439.857

22.897.275

21.937.627

-6,75

4,37

sản phẩm hóa chất

2.904.179

22.051.178

14.339.462

20,05

53,78

sản phẩm từ chất dẻo

3.843.872

20.086.153

10.765.330

119,82

86,58

Kim loại thường khác và sản phẩm

2.380.124

17.974.114

 

*

*

sản phẩm gốm, sứ

2.368.007

13.636.032

6.794.324

106,24

100,70

chất dẻo nguyên liệu

2.437.555

13.567.353

6.531.693

80,12

107,72

hạt điều

2.974.841

12.490.139

11.859.765

91,17

5,32

dây điện và dây cáp điện

1.570.897

10.944.929

8.258.664

17,32

32,53

sản phẩm từ sắt thép

1.206.396

10.418.380

5.485.384

88,62

89,93

bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

626.043

8.178.441

5.487.279

14,18

49,04

hàng rau quả

517.713

7.981.472

5.072.068

71,59

57,36

giày dép các loại

1.011.609

6.172.488

3.555.434

165,52

73,61

Hạt tiêu

127.745

5.431.791

 

*

*

giấy và các sản phẩm từ giấy

882.138

5.315.496

3.406.422

53,88

56,04

Thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

461.760

3.112.278

 

*

*

hóa chất

324.630

2.825.928

240.951

*

1.072,82

sản phẩm từ cao su

421.030

2.740.002

2.980.371

26,79

-8,07

túi xách, ví, vali, mũ và ô dù

366.890

1.726.322

1.461.221

39,49

18,14

gỗ và sản phẩm gỗ

355.405

1.560.580

4.672.529

-50,68

-66,60

Quặng và khoáng sản

 

1.468.250

89.604

*

1.538,60

đá quý, kim loại quý và sản phẩm

96.953

735.750

1.755.401

-8,41

-58,09

Theo Đại sứ Việt Nam tại Thái Lan, quan hệ hợp tác hữu nghị toàn diện giữa Việt Nam-Thái Lan đã không ngừng được củng cố và phát triển trên nhiều lĩnh vực, về cả bề rộng lẫn bề sâu, từ trung ương đến địa phương.

Hai bên cũng tăng cường hợp tác chặt chẽ trong các mối quan hệ đa phương trong các tổ chức khu vực và quốc tế, đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 của ASEAN vào ngày 28/7/1995.
Hai nước đã thiết lập được khuôn khổ hợp tác toàn diện, bao gồm chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, văn hóa-xã hội, giáo dục, đào tạo, thể thao, du lịch, quốc phòng-an ninh, cả ngoại giao chính thức và ngoại giao nhân dân - được khẳng định trong Tuyên bố chung tháng 2/2004 về Khuôn khổ hợp tác Việt Nam-Thái Lan trong thập niên đầu của thế kỷ 21.

Có được khuôn khổ hợp tác này, hai bên đã phải trải qua quãng đường đường dài, không ít trở ngại, giải quyết nhiều vấn đề tồn tại của lịch sử, để xây dựng mối quan hệ chính trị bền vững trên cơ sở lòng tin và sự hiểu biết lẫn nhau.

Hàng loạt Hiệp định hợp tác quan trọng được ký kết, tạo cơ sở để quan hệ hai nước tiếp tục phát triển, đặc biệt Hiệp định phân định ranh giới trên biển ngày 9/8/1997, được đánh giá là hình mẫu giải quyết tranh chấp trong khu vực và quốc tế.

Có hơn 230 dự án đầu tư của các doanh nghiệp Thái đang hoạt động tại Việt Nam, trong đó có những công ty hàng đầu của Thái Lan như Tập đoàn SCG, Tập đoàn CP, AMATA, Công ty dầu khí Thái Lan (PTT) và nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực khách sạn, du lịch, nông nghiệp, chế biến xuất nhập khẩu.

Với khoảng 6 tỷ USD đầu tư (từ năm 1988 đến nay), Thái Lan đã trở thành một trong mười nước và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất vào Việt Nam.

Đánh giá về triển vọng mở rộng quan hệ hợp tác giữa hai nước trong thời gian tới, Đại sứ cho rằng mối quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện Việt Nam-Thái Lan sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp hơn, vì được lãnh đạo và nhân dân hai nước cùng quan tâm vun đắp, phù hợp với xu thế phát triển của khu vực và toàn cầu.

Tất cả các lĩnh vực hợp tác sẽ được tăng cường cả về bề rộng lẫn bề sâu, trong đó tính quy mô và hiệu quả sẽ được chú trọng hơn vì sự hạnh phúc và phồn vinh của hai dân tộc cũng như sự thịnh vượng chung của ASEAN.

Triển khai thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, Đại sứ quán Việt Nam tiếp tục nỗ lực thúc đẩy quan hệ hợp tác song phương ngày đi vào chiều sâu, phát huy hết tiềm năng của mỗi nước, đồng thời đóng góp nhiều hơn cho việc hình thành Cộng đồng ASEAN, nhất là Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) vào năm 2015.

Trước mắt, hai bên cần thúc đẩy nhanh việc thương lượng và ký kết Hiệp định hợp tác lao động song phương. Hiệp định này sẽ có lợi nhiều mặt cho Chính phủ và nhân dân hai nước. Ngoại giao kinh tế sẽ được xúc tiến mạnh mẽ và thường xuyên hơn nữa, đặc biệt trong các lĩnh vực hai bên cùng có thế mạnh như trồng, chế biến và xuất khẩu gạo, cao su, các loại rau quả và cây ăn trái.

Cũng cần đẩy mạnh hoạt động hợp tác hai bên và nhiều bên trên Hành lang Kinh tế Đông Tây (EWEC), đường bộ xuyên Á, Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Hợp tác kinh tế ba dòng sông Ayeyarwady-Chao Phraya-Mekong (ACMECS); hỗ trợ và đẩy nhanh hơn phong trào kết nghĩa giữa các địa phương hai nước đồng thời chú trọng và tạo điều kiện cho các lĩnh vực hợp tác khác như văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ...; tổ chức trao đổi các đoàn văn hóa, nghệ thuật, thể thao, tăng cường hiểu biết về mọi mặt và tin cậy nhau giữa nhân dân hai nước.

Các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước những năm gần đây đánh dấu những mốc quan trọng, làm sâu sắc thêm tình hữu nghị và quan hệ hợp tác nhiều mặt giữa hai nước.

Cuộc họp giữa hai Chính phủ Việt Nam và Thái Lan được tổ chức lần thứ nhất vào tháng 2/2004 đã mở ra cơ chế hợp tác mới giữa hai nước. Đó là lần đầu trong lịch sử quan hệ song phương, nhiều thành viên của hai Chính phủ trực tiếp trao đổi, thảo luận các vấn đề liên quan của hai nước.

Sự tương đồng về văn hóa, xã hội là cơ sở thuận lợi để hai nước tăng cường xây dựng mối quan hệ giao lưu giữa nhân dân hai nước và Thái Lan tiếp tục có chính sách tích cực, tạo thuận lợi cho cộng đồng người Việt Nam tại xứ sở này.

Nhiều hoạt động trao đổi, phối hợp quảng bá du lịch, đầu tư, hội thảo, hội chợ, được tổ chức chung nhằm cung cấp thông tin, tạo cơ hội tốt để hai bên tìm đối tác.

Hợp tác an ninh-quốc phòng song phương không ngừng được thúc đẩy, trên cơ sở các nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; giải quyết mọi tranh chấp bằng phương tiện hòa bình; không đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực, không can thiệp công việc nội bộ của nhau; hợp tác trao đổi kinh nghiệm, phối hợp tuần tra chung trên biển, các cuộc thăm lẫn nhau của các đoàn quân sự, an ninh hai nước diễn ra thường kỳ và ngày càng đạt hiệu quả cao./.

 

Nguồn:Vinanet