menu search
Đóng menu
Đóng

Tháng 4/2011, kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản giảm so với tháng liền kề

14:25 21/06/2011

VINANET - Sau vụ động đất và sóng thần xảy ra tại Nhật Bản ngày 11/3/2011 vừa qua, đã làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong tháng 4 đã giảm 1,7% so với tháng liền kề trước đó, tương đương với 759,3 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuât khẩu 2,7 tỷ USD sang thị trường Nhật Bản, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm 2010.
 
 

VINANET - Sau vụ động đất và sóng thần xảy ra tại Nhật Bản ngày 11/3/2011 vừa qua, đã làm cho kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang thị trường Nhật Bản trong tháng 4 đã giảm 1,7% so với tháng liền kề trước đó, tương đương với 759,3 triệu USD. Tính chung 4 tháng đầu năm nay, Việt Nam đã xuât khẩu 2,7 tỷ USD sang thị trường Nhật Bản, tăng 24,3% so với cùng kỳ năm 2010.

Nếu không kể dầu thô, thì hàng dệt may tiếp tục là mặt hàng chính xuất khẩu sang thị trường này trong 4 tháng đầu năm nay. Tháng 4 Việt Nam đã xuất khẩu 129,5 triệu USD hàng dệt may sang Nhật Bản, giảm 3,26% so với tháng 3, tính chung 4 tháng đầu năm Việt Nam đã xuất 463,7 triệu USD mặt hàng này sang Nhật, tăng 45,2% so với cùng kỳ năm trước.

Theo Ông Lê Tiến Trường- Phó tổng giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), khả năng có biến động lớn về mặt thị trường của Nhật Bản là không xảy ra. Sau thảm họa thiên tai, thị trường Nhật Bản có thêm những yêu cầu đột xuất khác, chẳng hạn, nhu cầu về đồ bảo hộ tăng đột biến. Hiện nay, đơn đặt hàng bảo hộ lao động đang có xu thế tăng.

Nhật Bản có truyền thống kinh doanh rất ổn định. Năm nay, tăng trưởng dệt may vào thị trường này có thể không tăng, nhưng duy trì khoảng 1,2 tỷ USD như năm 2010 là hoàn toàn có thể đạt được do giá có thể nhích lên một chút.

Các nhà mua hàng Nhật Bản bao giờ cũng nhập một phần từ Trung Quốc, một phần từ Việt Nam và một phần từ các nước khác. Dệt may gồm hàng nghìn mặt hàng khác nhau, điều đó có nghĩa, nhà sản xuất phải căn cứ vào lợi thế cạnh tranh của mình. Nếu không lựa chọn được cái hợp lý đó, thì không có chuyện trong lúc thế giới giảm, dệt may Việt Nam vẫn tăng 15-20%. Vì vậy, ta phải lựa chọn được phân khúc có lợi thế tốt.

Hai loại hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản nhiều nhất là veston và hàng dệt kim. Công ty Dệt kim Đông Xuân, 30 năm nay chỉ chuyên sản xuất đồ lót cho Nhật Bản với 100% công suất. Người Nhật Bản có thói quen mặc vetston đi làm việc, mùa hè là vetston không dựng. Vì vậy, hàng năm, cùng với các doanh nghiệp may xuất khẩu khác, Công ty may Nhà Bè vẫn xuất cho các hãng buôn veston lớn nhất nước này.

Cũng theo ông, tình hình xuất khẩu có dịch chuyển một chút, theo hướng nhiều hơn về số lượng và chất lượng dịch chuyển về trung bình hơn. Nhật Bản là nền kinh tế lớn, hiện tại họ có khó khăn, nhưng chưa đến mức phải cắt giảm đến cả tiêu dùng tối thiểu.

Động đất tại Nhật Bản đã làm hàng trăm tàu thuyền đánh cá cũng như nhiều diện tích nuôi trồng thủy sản của ngư dân ven biển khu vực phía Bắc và Đông Bắc Nhật Bản đã bị phá hủy hoàn toàn gây ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam.

Phần lớn thủy sản xuất khẩu của Việt Nam đều đến cảng quanh khu vực Tokyo, nơi vừa chịu những thiệt hại sau trận sóng thần, sau đó mới phân phối sang các nơi khác. Chưa thể nói được phía Nhật Bản sẽ điều chỉnh lại bao nhiêu hợp đồng, trong đó có cả những lô hàng có thể bị ngưng tiếp nhận.

Tuy nhiên, những ảnh hưởng này chỉ gây cản trở trong thời gian ngắn. Theo diễn biến mới đây, các đơn hàng nhập khẩu thủy sản của Việt Nam qua đơn hàng từ Nhật Bản lại đã tăng nhanh, giá vẫn giữ ở mức cao không hề giảm. Hiện tại, người dân Nhật rất cần thực phẩm sạch, trong đó có tôm đông lạnh, cá tra phi lê… Theo số liệu thống kê của tổng cục Hải quan Việt Nam, thì trong tháng 4/2011 xuất khẩu hàng thủy sản của Việt Nam sang Nhật bản tăng 3,01% so với tháng trước, tương đương với 66,6 triệu USD.

Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu sang Nhật Bản trong tháng 4 giảm ở hầu khắp các mặt hàng, chỉ có một số mặt hàng tăng trưởng so với tháng 3 là: hàng thủy sản tăng 3,01%; sản phẩm từ sắt thép tăng 2,38%; cao su tăng 18,78%...

Thống kê hàng hóa xuất khẩu sang Nhật Bản tháng 4, 4 tháng năm 2011

ĐVT: lượng (tấn); Trị giá (USD)

 Chủng loại mặt hàng

KNXK T4/2011

KNXK 4T/2011

% tăng giảm so với T3/2011

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Tổng kim ngạch

 

759.373.700

 

2.782.958.353

 

-1,70

Dầu thô

197.595

163.674.334

296.175

243.169.186

282,17

264,67

hàng dệt, may

 

129.561.717

 

463.700.998

 

-3,26

máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

 

74.222.364

 

311.501.363

 

-16,62

Hàng thủy sản

 

66.601.087

 

237.844.088

 

3,01

gỗ và sản phẩm gỗ

 

40.136.806

 

162.659.899

 

-17,77

Dây điện và dây cáp điện

 

29.070.459

 

251.938.485

 

-62,86

Phương tiện vận tải và phụ tùng

 

27.200.843

 

109.562.942

 

-6,00

máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện

 

23.951.333

 

115.675.578

 

-25,10

sản phẩm từ chất dẻo

 

22.356.164

 

87.803.096

 

-15,98

cà phê

4.469

12.894.837

18.459

48.123.354

-9,68

-0,36

giày dép các loại

 

12.223.756

 

90.042.565

 

-50,84

túi xách, ví, vali, mũ và ô dù

 

11.450.395

 

47.275.906

 

-6,92

sản phẩm hóa chất

 

9.169.307

 

34.920.581

 

-8,92

sản phẩm từ sắt thép

 

8.222.816

 

31.997.415

 

2,38

Than đá

41.160

6.449.790

512.742

89.593.868

 

-73,61

giấy và các sản phẩm từ giấy

 

5.095.357

 

22.201.483

 

-22,36

sản phẩm từ cao su

 

4.814.166

 

18.568.211

 

-13,67

sản phẩm gốm, sứ

 

4.048.167

 

15.669.565

 

-11,14

Hàng rau quả

 

3.868.324

 

12.895.697

 

0,06

chất dẻo nguyên liệu

1.202

3.106.796

7.098

16.206.069

-46,32

-39,45

cao su

521

2.928.625

3.152

16.252.898

16,82

18,78

sản phẩm mây, tre, cói và thảm

 

2.906.353

 

9.418.679

 

-0,78

hóa chất

 

2.864.382

 

14.502.630

 

-49,88

đá quý, kim loại quý và sản phẩm

 

2.461.113

 

11.309.355

 

-45,15

thủy tinh và các sản phẩm từ thủy tinh

 

2.372.568

 

7.560.247

 

-22,17

bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc

 

2.329.523

 

8.880.966

 

-0,49

Hạt điều

128

989.617

255

1.798.116

300,00

450,25

hạt tiêu

155

865.580

711

4.015.703

-24,76

-28,78

sắn và các sản phẩm từ sắn

366

675.960

2.254

1.502.975

-42,63

118,17

Quặng và khoáng sản khác

1.017

590.804

2.175

3.098.314

285,23

-24,33

sắt thép các loại

177

559.153

668

2.720.476

-7,81

-40,01

Xăng dầu các loại

 

 

315

180.495

 

 

Sang đến tháng 5, xuất khẩu vào Nhật Bản tiếp tục gặp khó khăn, do kinh tế Nhật tăng trưởng chậm và nhu cầu tiêu dùng của dân cư chưa hồi phục nên 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu hàng hóa của VN vào thị trường này đã giảm 15% so với năm trước.

Kim ngạch của hàng thủ công mỹ nghệ xuất sang Nhật Bản giảm nhiều nhất. Hiện, các doanh nghiệp kinh doanh hàng này đang cố gắng đẩy mạnh công tác giao dịch trực tiếp với đối tác nhằm tăng cường lượng xuất.

Mặt hàng còn duy trì được lượng xuất khẩu khá vào Nhật Bản là thủy hải sản, trong đó mực tươi sống và tôm đông lạnh chiếm tỷ lệ cao. Các chuyên gia thương mại dự báo, trong những tháng còn lại của năm, hàng thủy sản sẽ có tốc độ tăng trưởng xuất khẩu vào Nhật Bản nhanh nhất.

Ng.Hương - Tổng hợp

Nguồn:Vinanet