menu search
Đóng menu
Đóng

Tình hình xuất khẩu quí I/2011

14:56 22/04/2011

Theo nguồn số liệu Tổng Cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu quý I năm 2011 ước đạt 19,25 tỉ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010 (tương đương với tăng 4,85 tỷ USD).
 
 

Theo nguồn số liệu Tổng Cục Thống kê, tổng kim ngạch xuất khẩu quý I năm 2011 ước đạt 19,25 tỉ USD, tăng 33,7% so với cùng kỳ năm 2010 (tương đương với tăng 4,85 tỷ USD), trong đó KNXK của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước ước đạt 8,79 tỷ USD, chiếm 45% tổng KNXK của cả nước, tăng 40%; KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 10,46 tỷ USD, chiếm 56% tổng KNXK của cả nước, tăng 28,7%, nếu không kể dầu thô KNXK của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 8,9 tỷ USD tăng 31,3% so với cùng kỳ năm 2010.

Lượng xuất khẩu của một số mặt hàng nông sản tăng cộng với sự tăng giá các mặt hàng nông sản đã làm cho KNXK của nhóm có mức tăng trưởng cao nhất trong cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu (tăng 58,8%). Điều này cho thấy xuất khẩu nông sản vẫn là mặt hàng có đóng góp quan trọng trong gia tăng kim ngạch xuất khẩu đặc biệt là khi xuất khẩu được giá, vì vậy cần phải có sự quan tâm đến việc hỗ trợ người nông dân khi vào vụ thu hoạch, có lượng tồn kho lớn nhằm giữ giá, tránh thiệt hại cho người nông dân và tránh bị khách hàng ép giá.

Xuất khẩu của các mặt hàng công nghiệp chế biến đã có sự gia tăng trở lại cho thấy sự phục hồi của sản xuất, xuất khẩu nước ta thời gian tới sẽ phụ thuộc nhiều vào sự gia tăng của nhóm hàng này, vì vậy cần thiết có những chính sách hỗ trợ kịp thời nhằm đẩy mạnh xuất khẩu. Nhóm hàng công nghiệp chế biến quý I năm 2011 ước đạt 9,06 tỷ USD, chiếm 47% trong tổng KNXK, tăng 22,8% so với cùng kỳ năm 2010, tương đương với tăng gần 1,7 tỷ USD. Xuất khẩu của nhóm hàng này có sự khởi sắc, tăng đều trong tất cả các mặt hàng, có những mặt hàng tăng cao như: sắt thép các loại tăng 87,3%, chất dẻo nguyên liệu tăng 76,1%, sản phẩm hoá chất tăng 46,3%, túi xách, vali, mũ, ô dù tăng 38,2%... những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của nhóm như dệt may, giầy dép, sản phẩm gỗ, máy vi tính và linh kiện điện tử, dây điện và cáp điện đều tăng khá từ 13 - 29%.

Quý I năm 2011 xuất khẩu hàng hoá được lợi về giá, giá hầu hết các mặt hàng nông sản và khoáng sản đều tăng so với cùng kỳ. Do giá xuất khẩu tăng đã làm tăng kim ngạch xuất khẩu của nhóm nông sản khoảng 735 triệu USD, kim ngạch xuất khẩu của nhóm nhiên liệu, khoáng sản khoảng 453 triệu USD, tính chung do giá XK tăng đã làm tăng KNXK khoảng 1,188 tỷ USD so với cùng kỳ năm ngoái.

Về thị trường xuất khẩu, quý I năm 2011, trừ thị trường châu Đại dương giảm mạnh, xuất khẩu vào các khu vực thị trường khác đều có mức tăng trưởng khá cao, trong đó tăng cao nhất là thị trường Châu Âu tăng 40,7%, điển hình là thị trường Đảo Síp (tăng gần 4 lần), Áo (hơn gấp 2 lần), Ba Lan (tăng 98%)...

Mặt hàng xuất khẩu vào các thị trường có mức tăng trưởng cao này chủ yếu là dệt may, giầy dép, sản phẩm chất dẻo và một số nông sản như cà phê, hạt tiêu. Thị trường Châu Á và Châu Phi có mức tăng trưởng đứng thứ hai tăng 32,7%, trong đó tăng trưởng trên gấp hai lần có thị trường Inđonêxia, Hàn Quốc, Bờ biển Ngà, Xênegan. Thị trường Châu Mỹ tăng 19%, trong đó xuất khẩu vào Mỹ tăng 18,6%, trừ mặt hàng gỗ và sản phẩm gỗ giảm nhẹ, còn lại hầu hết ở các mặt hàng chủ lực đều tăng. Thị trường Châu Đại dương giảm mạnh giảm 34,6%, chủ yếu do lượng xuất khẩu than đá giảm 92% và dầu thô lượng dầu thô giảm 24% về lượng.

Thống kê số liệu ước tính xuất khẩu tháng 3, 3 tháng năm 2011

Đơn vị: 1000 Tấn, triệu USD

 

Tổng trị giá

Ước tính tháng 03 năm 2011

Ước tính 03 tháng năm 2011

% tăng, giảm 2011 so với 2010

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

Lượng

Trị giá

 

 

7050

 

19245

0,0

33,7

Khu vực KT trong nước

 

3330

 

8789

0,0

40,1

Khu vực có vốn ĐTTTNN

 

 

 

0

 

0,0

Kể cả dầu thô

 

3720

 

10457

 

28,7

Trừ dầu thô

 

3200

 

8900

0,0

31,3

 Mặt hàng chủ yếu

 

 

 

 

 

 

Thủy sản

0

450

0

1142

0,0

30,5

Rau quả

0

55

0

150

0,0

31,3

Hạt điều

9

66

29

204

-6,6

27,9

Cà phê

150

330

509

1047

46,4

115,1

Chè

8

11

25

35

-6,1

-2,8

Hạt tiêu

15

73

25

121

-11,7

41,1

Gạo

650

325

1686

849

17,0

7,3

Sắn và sản phẩm của sắn

450

140

1112

361

62,5

100,7

Than đá

1000

91

1881

210

-60,6

-38,4

Dầu thô 

624

520

1963

1557

-12,3

15,7

Xăng dầu

200

181

579

495

29,6

70,0

Hóa chất và sản phẩm hóa chất

0

70

0

164

0,0

24,6

Sản phẩm từ chất dẻo

 

110

 

279

0,0

30,0

Cao su

50

227

173

774

37,9

134,1

Túi xách, ví, va li, mũ, ô dù

0

95

0

255

0,0

38,2

Sản phẩm mây tre, cói, thảm

0

20

0

50

0,0

2,8

Gỗ và sản phẩm gỗ

0

320

0

816

0,0

9,2

Dệt, may

0

1000

0

2795

0,0

27,9

Giày dép

0

430

0

1295

0,0

29,7

Sản phẩm gốm sứ

0

30

0

86

0,0

6,3

Đá quý, KL quý và sản phẩm

0

25

0

63

0,0

26,8

Sắt thép

140

132

443

387

49,4

87,4

Điện tử, máy tính

0

270

0

791

0,0

13,1

Máy móc, thiết bị, dụng cụ PT

0

290

0

782

0,0

20,1

Dây điện và cáp điện

0

140

0

354

0,0

20,9

Phương tiện vận tải và phụ tùng

0

120

0

338

0,0

-13,5

(Nguồn số liệu: Tổng cục Thống kê)

 

Nguồn:Vinanet