Nhập khẩu tôm vào Mỹ tháng 3/2013 tiếp tục giảm 5,3% so với tháng 3/2012 khiến NK tôm vào thị trường này ba tháng đầu năm 2013 giảm 8% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nhập khẩu tôm từ hầu hết các nước đều giảm mạnh trong đó, NK từ Thái Lan giảm tới 27% về giá trị và 21% về khối lượng mặc dù Thái Lan vẫn dẫn đầu về cung cấp tôm cho thị trường này với 21,8% tỷ trọng về giá trị và 21,4% về khối lượng trên tổng nguồn cung. Nhập khẩu tôm từ Việt Nam cũng giảm 20% về giá trị và 7% về khối lượng.
Ấn Độ là nước duy nhất trong nhóm 8 thị trường chính vẫn duy trì sức tăng trưởng cao trong XK tôm sang Mỹ với mức tăng 51% về giá trị và 69% về khối lượng.
Những nỗ lực trong việc ngăn chặn tôm NK của ngành khai thác tôm nội địa Mỹ là một trong những tác nhân chính khiến NK tôm vào nước này giảm. Trong khi đó, sản lượng khai thác tôm nội địa, hiện chiếm chưa tới 5% tổng nguồn cung tôm cho Mỹ cũng giảm đáng kể.
Theo thống kê của NMFS, sản lượng khai thác tôm nội địa của Mỹ 2 tháng đầu năm 2013 đạt 3.608,5 tấn, giảm 243% so với cùng kỳ năm 2012. Sản lượng khai thác tôm trong tháng 3 tiếp tục giảm 47%.
Nguồn cung hạn chế đã đẩy giá tôm trên thị trường Mỹ tăng liên tục kể từ đầu năm đến nay. Giá tôm chân trắng HLSO tại Mỹ đã tăng 17%, từ 4,1 USD/pao tháng 1/2013 lên 4,7 USD/pao đầu tháng 5/2013. Giá tôm sú HLSO cũng tăng khoảng 11% trong thời gian này, từ 6,4 USD/pao lên 7,1 USD/pao.
Với những nỗ lực ngăn chặn tôm NK bằng các rào cản thuế quan và thông tin truyền thông thiếu cơ sở và thiếu tính thuyết phục, thị trường tôm Mỹ sẽ càng khó khăn về nguồn cung và người tiêu dùng Mỹ sẽ chịu hậu quả khi giá tôm tăng.
Hội chứng tôm chết sớm (EMS) làm giảm mạnh sản lượng tôm của các nước sản xuất khu vực Châu Á, do đó XK tôm của Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan sang các nước trong đó có Mỹ giảm đáng kể. Trong khi nguồn cung cấp tôm cho các nước NK giảm, thị trường lại bị xáo động bởi tâm lý lo lắng một cách thái quá về ảnh hưởng của dịch bệnh EMS và tác nhân gây ra hội chứng này. Có thể vì mục đích bảo hộ và tâm lý lo ngại này mà một số nước đã đưa ra lệnh cấm NK tôm từ các nước sản xuất có dịch bệnh EMS. Thậm chí, nhân cơ hội này, Liên minh tôm miền Nam (SSA) của Mỹ lên tiếng đề nghị xem xét mức độ ảnh hưởng của EMS đối với sức khỏe con người, với mục tiêu hạn chế NK, bảo hộ ngành tôm nhỏ bé của họ.
Đầu tháng 5 vừa qua, truyền thông trong nước và thế giới “nóng” lên với thông tin Liên minh nuôi trồng thủy sản toàn cầu (GAA) công bố nguyên nhân gây Hội chứng tôm chết sớm (EMS) hay còn gọi là Hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHNS) là do chủng vi khuẩn Vibrio parahaemolyticus. Đây là kết quả sau nhiều tháng nghiên cứu của nhóm nghiên cứu thuộc trường Đại học Arizona do Donald Lightner, chuyên gia về bệnh học tôm làm trưởng nhóm.
Báo cáo của Donald Lightner đã làm dịu mối quan ngại của người tiêu dùng với khẳng định tác nhân gây bệnh EMS không tồn tại được trong môi trường đông lạnh và rã đông do đó không thể lây nhiễm sang tôm khai thác tự nhiên hoặc lây nhiễm sang môi trường khác. Như vậy, sản phẩm tôm đã qua sơ chế không mang các mầm bệnh nguy hiểm. Hơn nữa, dịch bệnh EMS cũng chưa từng bị phát hiện lây lan từ sản phẩm tôm đông lạnh sang tôm sống. Như vậy, tâm lý lo ngại và động thái của một số nước cấm NK tôm đông lạnh từ các nước sản xuất chịu ảnh hưởng của EMS là không hợp lý.
Vasep
Nguồn:Internet