Hai thị trường Indonesia và Malaysia tiếp tục là thị trường nhập khẩu dầu thực vật chính của Việt Nam. Tổng giá trị nhập khẩu từ 2 thị trường này chiếm tới 85,34% tổng giá trị nhập khẩu dầu thực vật của Việt Nam. Đáng chú ý, nhập khẩu dầu thực vật của Việt Nam trong quý I/2026 chủ yếu từ thị trường ASEAN như: Indonesia chiếm 50,62%; Malaysia chiếm 34,72%; Thái Lan chiếm 4,55%; Singapore chiếm 0,31%.
Indonesia: Trong quý I/2026, Việt Nam nhập khẩu dầu thực vật nhiều nhất từ thị trường Indonesia, với kim ngạch nhập khẩu đạt 202,91 triệu USD, tăng 0,04% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu dầu thực vật của Việt Nam từ thị trường Indonesia quý I/2026 đạt 50,62%, thu hẹp so với 61,93% của cùng kỳ năm 2025, cho thấy Việt Nam đang giảm phụ thuộc vào nguồn cung lớn nhất. Trong đó, dầu cọ là mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường này. Thương hiệu nhập khẩu chính của mặt hàng dầu thực vật từ thị trường Indonessia trong quý I/2026 là Olein.
Malaysia: Trong quý I/2026, Việt Nam nhập khẩu dầu thực vật từ thị trường Malaysia đứng thứ hai, với kim ngạch nhập khẩu từ thị trường này đạt 139,16 triệu USD, tăng 92,69% so với cùng kỳ năm 2025. Tỷ trọng kim ngạch nhập khẩu dầu thực vật của Việt Nam từ thị trường Malaysia quý I/2026 đạt 34,72%, mở rộng so với 22,05% của cùng kỳ năm 2025. Malaysia là động lực tăng trưởng chính, góp phần quan trọng vào mức tăng chung của kim ngạch nhập khẩu dầu thực vật trong quý I/2026. Dầu cọ là mặt hàng được nhập khẩu nhiều nhất từ thị trường này. Thương hiệu nhập khẩu chính của mặt hàng dầu thực vật từ thị trường Malaysia trong quý I/2026 là Olein.
Nhìn chung, quý I/2026 ghi nhận sự tăng trưởng tích cực của thị trường nhập khẩu dầu thực vật, đồng thời cho thấy quá trình tái cơ cấu nguồn cung diễn ra rõ nét. Xu hướng giảm phụ thuộc vào thị trường Indonesia, gia tăng vai trò của thị trường Malaysia và mở rộng sang các thị trường mới đang góp phần nâng cao tính ổn định của nguồn cung dầu thực vật. Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trường thế giới còn nhiều biến động, cần tiếp tục theo dõi chặt chẽ các yếu tố giá cả, chính sách xuất khẩu và rủi ro địa chính trị trong thời gian tới.
Thị trường nhập khẩu dầu thực vật của Việt Nam quý I/2026
|
Thị trường
|
Qúy I/2026
(USD)
|
So với
quý I/2025
(%)
|
Tỷ trọng
(%)
|
|
Qúy I/2026
|
Qúy I/2025
|
|
Tổng
|
400.847,15
|
22,38
|
100,00
|
100,00
|
|
Indonesia
|
202.911,63
|
0,04
|
50,62
|
61,93
|
|
Malaysia
|
139.155,37
|
92,69
|
34,72
|
22,05
|
|
Thái Lan
|
18.244,71
|
-6,19
|
4,55
|
5,94
|
|
Ấn Độ
|
8.894,48
|
101,57
|
2,22
|
1,35
|
|
Trung Quốc
|
8.283,17
|
2,75
|
2,07
|
2,46
|
|
Australia
|
6.342,68
|
32,84
|
1,58
|
1,46
|
|
Tây Ban Nha
|
2.577,92
|
37,28
|
0,64
|
0,57
|
|
Hàn Quốc
|
1.708,42
|
3,66
|
0,43
|
0,50
|
|
Italy
|
1.348,19
|
27,32
|
0,34
|
0,32
|
|
Singapore
|
1.247,76
|
-44,82
|
0,31
|
0,69
|
|
Đài Loan
|
1.216,93
|
19,83
|
0,30
|
0,31
|
|
Nhật Bản
|
1.113,78
|
-11,63
|
0,28
|
0,38
|
|
Nga
|
893,12
|
-28,81
|
0,22
|
0,38
|
|
Đức
|
843,56
|
112,29
|
0,21
|
0,12
|
|
New Zealand
|
788,88
|
51,55
|
0,20
|
0,16
|
|
Bỉ
|
770,17
|
878,27
|
0,19
|
0,02
|
|
Hoa Kỳ
|
596,73
|
-20,77
|
0,15
|
0,23
|
|
Philippines
|
574,31
|
68,50
|
0,14
|
0,10
|
|
Brazil
|
562,83
|
5,39
|
0,14
|
0,16
|
|
Pháp
|
431,34
|
65,05
|
0,11
|
0,08
|
|
Canada
|
387,96
|
5,49
|
0,1
|
0,11
|
|
Hy Lạp
|
339,89
|
146,07
|
0,08
|
0,04
|
|
Bănglađet
|
337,00
|
256,99
|
0,08
|
0,03
|
|
Ả Rập Xê Út
|
330,54
|
207,29
|
0,08
|
0,03
|
|
Thụy Điển
|
198,35
|
-13,52
|
0,05
|
0,07
|
|
Ukraine
|
178,20
|
-29,37
|
0,04
|
0,08
|
|
Ba Lan
|
151,58
|
175,45
|
0,04
|
0,02
|
|
Ai Cập
|
106,45
|
|
0,03
|
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
103,93
|
-79,37
|
0,03
|
0,15
|
|
Hà Lan
|
81,55
|
-32,25
|
0,02
|
0,04
|
|
Chile
|
48,10
|
-49,79
|
0,01
|
0,03
|
|
Bồ Đào Nha
|
22,66
|
|
0,01
|
|
|
Anh
|
18,68
|
113,44
|
0,005
|
0,003
|
|
Đan Mạch
|
11,24
|
48,67
|
0,003
|
0,002
|
|
Thụy Sỹ
|
10,39
|
|
0,003
|
|
|
Ai Len
|
4,92
|
|
0,001
|
|
|
Ixraen
|
3,27
|
|
0,001
|
|
|
Hồng Kông
|
3,07
|
-98,26
|
0,001
|
0,05
|
|
Côlombia
|
2,15
|
|
0,001
|
|
|
CH Séc
|
1,24
|
72,57
|
0,0003
|
0,0002
|
Nguồn:Vinanet/VITIC