Riêng tháng 12/2025 ước đạt 3,76 triệu tấn, tương đương 132,47 triệu USD, giá trung bình 35,2 USD/tấn, tăng 6% về lượng, tăng 7,3% kim ngạch và tăng 1,2% về giá so với tháng 11/2025; So với tháng 12/2024 tăng rất mạnh 66,7% về lượng, tăng 54,5% kim ngạch nhưng giảm 7,3% về giá.
Xi măng, clinker xuất khẩu nhiều nhất sang thị trường Philippines chiếm 16% trong tổng lượng và chiếm 16,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, đạt 5,96 triệu tấn, tương đương gần 228,18 triệu USD, giá trung bình 38,3 USD/tấn, giảm 25,6% về lượng, giảm 28,5% về kim ngạch và giảm 3,9% về giá so với năm 2024. Riêng tháng 12/2025 xuất khẩu sang Philippines 322.800 tấn xi măng, clinker, tương đương 13,18 triệu USD, giá 40,8 USD/tấn, giảm 21,9% về lượng, giảm 14,2% về kim ngạch nhưng tăng 9,8% về giá so với tháng 11/2025; So với tháng 12/2024 thì giảm mạnh34,7% về lượng, giảm 32,2% về kim ngạch nhưng tăng 3,9% về giá.
Đứng thứ 2 là thị trường Bangladesh đạt 6,07 triệu tấn xi măng, clinker, thu về 196,54 triệu USD, giá 32,4 USD/tấn, tăng 10,5% về lượng và tăng 12,2% về kim ngạch và tăng 1,6% về giá so với năm 2024; xuất khẩu sang thị trường Malaysia 1,77 triệu tấn, tương đương 63,19 triệu USD, giá 35,7 USD/tấn, tăng 5,5% về lượng, tăng 10,5% về kim ngạch, và tăng 4,8% về giá; xuất khẩu sang Đài Loan 1,39 triệu tấn, tương đương 50,29 triệu USD, giảm 9,5% về lượng, giảm 6,4% về kim ngạch nhưng tăng 3,4% về giá so với năm 2024.
Xuất khẩu xi măng, clinker năm 2025
(Tính toán từ số liệu công bố ngày 10/1/2026 của CHQ)
Nguồn:Vinanet/VITIC