Trong đó, xuất khẩu của doanh nghiệp có vốn hoàn toàn trong nước đạt hơn 2 tỷ USD, tăng 6,4%; xuất khẩu của doanh nghiệp FDI đạt 3,08 tỷ USD, tăng 6,7%.
Xét về thị trường, trong 3 tháng qua, hàng dệt may của Việt Nam xuất sang thị trường Hoa Kỳ đạt 2,53 tỷ USD, tăng 6,57%; sang EU đạt 692 triệu USD, tăng 7,3%; sang Nhật Bản đạt gần 640 triệu USD, tăng 0,62% và sang Hàn Quốc đạt 531,1 triệu USD, tăng 12,37% so với cùng kỳ năm 2015.
Nhìn chung xuất khẩu hàng dệt may sang đa số các thị trường trong quí I/2016 đều đạt mức tăng trưởng dương về kim ngạch so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó, xuất khẩu tăng mạnh ở một số thị trường như: Áo (+221%), Pháp (+118%), Ấn Độ (+72,77%), Ai cập (+58.85%). Tuy nhiên, xuất khẩu hàng dệt may giảm mạnh ở một số thị trường như Bờ Biển Ngà, Angola và Myanmar với mức giảm tương ứng: 66,57%, 77,36% và 40,84%.
Dệt may Việt Nam được coi là lợi ích cốt lõi khi gia nhập TPP, tuy nhiên ngành dệt may đang phải đối mặt với thách thức lớn về chuỗi cung ứng để đáp ứng nhu cầu hội nhập. Hiện nay dệt may trong nước đang phải NK 60% nguyên liệu của Trung Quốc. Trong nước chỉ sản xuất được 40% nguyên liệu nhưng chủ yếu là hàng dệt kim, công nghệ đơn giản. Đối với dệt thoi thì từ 70 đến 80% là NK.
Nguyên nhân ngành dệt may NK nguyên liệu kéo dài là do doanh nghiệp (DN) Việt Nam chủ yếu là gia công hoặc là sản xuất theo chỉ định của các DN nước ngoài nên không thể quyết định nguyên liệu sản xuất. Bên cạnh đó, phần lớn DN trong nước còn sử dụng công nghệ lạc hậu, mẫu mã nghèo nàn, chất lượng sản phẩm không đáp ứng nhu cầu khách hàng nên không thể cạnh tranh.
Về nguyên liệu sản xuất trong nước, trung bình mỗi năm các DN trong nước sản xuất được khoảng 1 tỷ mét vải. Đối với mặt hàng sợi, một năm trong nước sản xuất khoảng 1,2 triệu tấn nhưng XK 700 - 800 ngàn tấn. Nghịch lý ở chỗ trong khi vải trong nước chủ yếu là để XK thì các DN làm hàng XK lại phải nhập vải từ nước ngoài. Tương tự, lượng sợi phải NK cũng tương đương lượng sợi xuất đi.
Nhận thức rõ cơ hội khi gia nhập TPP nếu đảm bảo đủ điều kiện xuất xứ nguyên liệu, tuy nhiên DN trong nước gần như “lực bất tòng tâm” vì đầu tư sản xuất nguyên liệu đòi hỏi số vốn lớn. Đề đầu tư một nhà máy dệt, nhuộm cần phải có hàng chục triệu USD việc này là quá khả năng của các DN vừa và nhỏ trong ngành dệt may.
Trước thực trạng trên, các chuyên gia cho rằng, để giải bài toán về xuất xứ nguyên liệu trong TPP các DN trong ngành dệt may phải phối hợp với nhau. DN XK phải chủ động tìm đến DN sản xuất nguyên liệu nhằm giảm tối đa tình trạng NK. Đây chính là hình thức vừa đảm bảo quy tắc xuất xứ nguyên liệu, vừa đảm bảo tính cạnh tranh về giá cả.
Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam, các động lực để liên kết chuỗi giá trị gia tăng cho dệt may hiện nay là hoa hồng, giảm giá, thu mua lại và bình đẳng để cùng có lợi trong kinh doanh. Để liên kết chuỗi DN phải đáp ứng yêu cầu về giá, thời gian giao hàng số lượng và chất lượng.
Số liệu thống kê sơ bộ của TCHQ xuất khẩu hàng dệt may quí I/2016
ĐVT: USD
|
Thị trường
|
Quí I/2016
|
Quí I/2015
|
+/- (%) Quí I/2016 so với cùng
kỳ
|
|
Tổng kim ngạch
|
5.125.443.382
|
4.850.610.978
|
+5,67
|
|
Hoa Kỳ
|
2.527.759.781
|
2.371.881.656
|
+6,57
|
|
Nhật Bản
|
639.895.384
|
635.950.158
|
+0,62
|
|
Hàn Quốc
|
531.095.283
|
472.637.453
|
+12,37
|
|
Anh
|
157.541.328
|
146.842.115
|
+7,29
|
|
Đức
|
136.764.952
|
131.075.731
|
+4,34
|
|
Trung Quốc
|
136.189.240
|
111.599.823
|
+22,03
|
|
Canada
|
102.716.770
|
111.533.773
|
-7,91
|
|
Hà Lan
|
100.706.744
|
89.160.686
|
+12,95
|
|
Tây Ban Nha
|
89.817.578
|
106.398.857
|
-15,58
|
|
Pháp
|
69.966.330
|
32.009.228
|
+118,58
|
|
Đài Loan
|
63.351.071
|
54.827.719
|
+15,55
|
|
Campuchia
|
51.756.845
|
49.832.667
|
+3,86
|
|
Hồng Kông
|
44.224.367
|
45.755.077
|
-3,35
|
|
Bỉ
|
42.280.622
|
40.204.465
|
+5,16
|
|
Australia
|
37.264.085
|
31.547.736
|
+18,12
|
|
Italia
|
34.810.646
|
41.902.972
|
-16,93
|
|
Indonesia
|
26.497.579
|
31.295.011
|
-15,33
|
|
Tiểu VQ Arập TN
|
23.106.604
|
29.185.115
|
-20,83
|
|
Malaysia
|
18.023.594
|
13.875.811
|
+29,89
|
|
Thái Lan
|
17.810.320
|
11.747.533
|
+51,61
|
|
Mexico
|
17.752.573
|
18.004.530
|
-1,40
|
|
Chi Lê
|
16.451.695
|
25.580.153
|
-35,69
|
|
Philippin
|
16.059.390
|
11.568.512
|
+38,82
|
|
Đan Mạch
|
14.219.293
|
17.327.681
|
-17,94
|
|
Thụy Điển
|
13.835.922
|
16.910.910
|
-18,18
|
|
Nga
|
12.995.753
|
9.929.733
|
+30,88
|
|
Ả Râp Xê Út
|
12.510.891
|
14.970.324
|
-16,43
|
|
Singapore
|
12.114.043
|
15.256.484
|
-20,60
|
|
Bangladesh
|
11.768.918
|
7.699.961
|
+52,84
|
|
Braxin
|
10.413.807
|
16.652.357
|
-37,46
|
|
Ba Lan
|
9.863.165
|
9.526.826
|
+3,53
|
|
Nauy
|
6.568.908
|
6.618.543
|
-0,75
|
|
Ấn Độ
|
5.841.648
|
3.381.213
|
+72,77
|
|
Nam Phi
|
5.371.601
|
5.131.501
|
+4,68
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
5.273.097
|
7.970.637
|
-33,84
|
|
Achentina
|
5.216.848
|
7.684.627
|
-32,11
|
|
Áo
|
4.578.681
|
1.425.662
|
+221,16
|
|
Panama
|
4.182.216
|
5.385.312
|
-22,34
|
|
Senegal
|
4.078.538
|
4.561.697
|
-10,59
|
|
Israel
|
3.524.119
|
3.593.529
|
-1,93
|
|
New Zealand
|
3.272.209
|
3.816.485
|
-14,26
|
|
Myanma
|
2.242.452
|
3.790.380
|
-40,84
|
|
Nigieria
|
1.798.390
|
1.582.564
|
+13,64
|
|
Thụy Sỹ
|
1.763.942
|
2.249.185
|
-21,57
|
|
Gana
|
1.721.026
|
0
|
*
|
|
Lào
|
1.708.432
|
2.283.722
|
-25,19
|
|
Phần Lan
|
1.604.122
|
2.245.649
|
-28,57
|
|
Ai cập
|
1.595.880
|
1.004.618
|
+58,85
|
|
Hy Lạp
|
1.406.185
|
1.836.867
|
-23,45
|
|
Séc
|
1.346.334
|
1.788.820
|
-24,74
|
|
Ucraina
|
724.659
|
1.014.007
|
-28,54
|
|
Slovakia
|
667.710
|
534.905
|
+24,83
|
|
Angola
|
578.790
|
2.556.982
|
-77,36
|
|
Bờ biển Ngà
|
104.734
|
313.334
|
-66,57
|
Thủy Chung
Nguồn:vinanet