- Giá vàng thế giới giảm 23% trong quý 2 bởi lo ngại Fed rút lại gói kích thích khổng lồ
- Dầu thô Brent giảm quý thứ 3lieen tiếp, dài nhất kể từ 1998
- Đồng giảm trên 10% trogn quý 2, mạnh nhất kể từ 2011
- Ngô vụ mới, lúa mì giảm bởi triển vọng bội thu ở Mỹ
(VINANET) – Giá vàng thế giới quý 2/2013 giảm kỷ lục, trong khi giá đồng, ngô và cà phê cũng đồng loạt giảm, bằng chứng rõ ràng cho thấy rằng kỷ nguyên tăng giá hàng hóa đã qua.
Chứng khoán tăng giá đã hút tiền của các nhà đầu tư ra khỏi thị trường nguyên liệu thô để chuyển sang thị trường chứng khoán trong tuần cuối cùng của tháng 6, khi Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Mỹ Ben Bernanke tỏ ý ngân hàng trung ương Mỹ sẽ sớm giảm quy mô chương trình mua trái phiếu chính phủ 85 tỷ USD mỗi tháng.
Lo ngại về tăng trưởng kinh tế Trung Quốc – nước tiêu thụ khổng lồ - chậm lại càng gây áp lực giảm giá hàng hóa, và cuộc khủng hoảng tín dụng tuần qua gây hoang mang cho các nhà đầu tư trên toàn cầu.
Căng thẳng giảm bớt vào ngày 28/6 kéo chứng khoán Trung Quốc hồi phục trở lại và ngân hàng trung ương nước này phát đi những thông điệp trấn an thị trường.
Dầu Brent tham chiếu giá giảm 66 US cent phiên cuối cùng của tháng, 28/6 (kết thúc vào rạng sáng 29/6 giờ VN) và giảm 8,1% kể từ tháng 3, kết thúc quý thứ 3 liên tiếp giảm giá – dài nhất trong vòng 15 năm nay.
Đồng gần chạm mức thấp nhất 3 năm phiên cuối tháng 6, mất 10,3% trong quý 2. Giá đồng giảm chủ yếu do lo ngại về tăng trưởng chậm lại ở nước tiêu thụ lớn nhất thế giới là Trugn Quốc. Đồng kỳ hạn 3 tháng tại London phiên cuối tháng tăng 0,2% lên 6.765 USD/tấn, nhưng đã mất 10,3% trong quý và là quý thứ 3 liên tiếp giảm.
Nhu cầu đồng ở Trung Quốc hiện rất thấp, và nhiều chuyên gia nhận định xu hướng sắp tới của giá đồng sẽ là giảm chứ không phải tăng.
Vụ ngô mới hứa hẹn sản lượng cao ở Hoa Kỳ cũng khiến giá ngô giảm 7 phiên liên tiếp, sau khi chính phủ Mỹ công bố nông dân trồng diện tích cao hơn so với dự kiến.
Chỉ số ThomsonReuters-CRB commodity bao gồm 19 hàng hóa nguyên liệu giảm hơn 7% trong quý, và giảm 23% kể từ tháng 3/2011. Do khủng hoảng tài chính, đây là đợt giảm giá sâu nhất và dài nhất kể từ khi các thị trường nguyên liệu thô bắt đầu tăng hồi đầu 2002, cho thấy kỷ nguyên giá tăng dường như đã trôi qua.
Vàng giảm mạnh nhất, do lợi suất trái phiếu tăng và lo ngại về lạm phát giảm khiến vàng trở nên kém hấp dẫn. Một số nhà phân tích nhận định thị trường vàng phải trải qua giai đoạn bán quá nhiều rồi mới đến giai đoạn mua trở lại.
Phiên giao dịch cuối quý, giá vàng đầu phiên giảm xuống 1.180,71 USD, rẻ nhất kể từ tháng 8/2010, song tăng trở lại thêm 2,3% vào cuối phiên. Từ tháng 3 đến tháng 6, vàng mất giá 23%, mạnh nhất kể từ khi Reuters công bố số liệu năm 1986. Nếu không có sự tăng giá đột biến, vàng sẽ có năm 2013 giảm giá lần đầu tiên trong vòng 12 năm.
Giá hàng hóa thế giới
|
Hàng hóa
|
ĐVT
|
Giá
|
+/-
|
+/- (%)
|
|
Dầu thô WTI
|
USD/thùng
|
96.56
|
0.00
|
0.00%
|
|
Dầu Brent
|
USD/thùng
|
102.16
|
-0.66
|
-0.64%
|
|
Dầu thô TOCOM
|
JPY/kl
|
60,730.00
|
-310.00
|
-0.51%
|
|
Khí thiên nhiên
|
USD/mBtu
|
3.57
|
-0.02
|
-0.47%
|
|
Xăng RBOB FUT
|
US cent/gallon
|
271.56
|
-1.25
|
-0.46%
|
|
Dầu đốt
|
US cent/gallon
|
285.88
|
0.00
|
0.00%
|
|
Dầu khí
|
USD/tấn
|
877.25
|
-0.50
|
-0.06%
|
|
Dầu lửa TOCOM
|
JPY/kl
|
74,940.00
|
-290.00
|
-0.39%
|
|
Vàng New York
|
USD/ounce
|
1,223.70
|
+12.10
|
+1.00%
|
|
Vàng TOCOM
|
JPY/g
|
3,924.00
|
+88.00
|
+2.29%
|
|
Bạc New York
|
USD/ounce
|
19.47
|
0.00
|
0.00%
|
|
Bạc TOCOM
|
JPY/g
|
63.00
|
+2.30
|
+3.79%
|
|
Bạch kim giao ngay
|
USD/t oz.
|
1,341.00
|
+26.02
|
+1.98%
|
|
Palladium giao ngay
|
USD/t oz.
|
659.00
|
+12.97
|
+2.01%
|
|
Đồng
|
US cent/lb
|
305.75
|
0.00
|
0.00%
|
|
Đồng LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
6,750.00
|
0.00
|
0.00%
|
|
Nhôm LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
1,773.00
|
+8.00
|
+0.45%
|
|
Kẽm LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
1,853.00
|
+2.00
|
+0.11%
|
|
Thiếc LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
19,675.00
|
-100.00
|
-0.51%
|
|
Ngô
|
US cent/bushel
|
511.00
|
-27.50
|
-5.11%
|
|
Lúa mì CBOT
|
US cent/bushel
|
657.75
|
-16.00
|
-2.37%
|
|
Lúa mạch
|
US cent/bushel
|
360.50
|
-13.75
|
-3.67%
|
|
Gạo thô
|
USD/cwt
|
15.59
|
+0.03
|
+0.16%
|
|
Đậu tương
|
US cent/bushel
|
1,252.00
|
-23.25
|
-1.82%
|
|
Khô đậu tương
|
USD/tấn
|
374.00
|
-13.20
|
-3.41%
|
|
Dầu đậu tương
|
US cent/lb
|
45.12
|
-0.07
|
-0.15%
|
|
Hạt cải WCE
|
CAD/tấn
|
534.80
|
-6.80
|
-1.26%
|
|
Cacao Mỹ
|
USD/tấn
|
2,164.00
|
+16.00
|
+0.74%
|
|
Cà phê Mỹ
|
US cent/lb
|
120.40
|
-1.50
|
-1.23%
|
|
Đường thô
|
US cent/lb
|
16.92
|
-0.09
|
-0.53%
|
|
Nước cam cô đặc đông lạnh
|
US cent/lb
|
128.70
|
+0.45
|
+0.35%
|
|
Bông
|
US cent/lb
|
84.01
|
+0.13
|
+0.15%
|
|
Lông cừu (SFE)
|
US cent/kg
|
1,047.00
|
0.00
|
0.00%
|
|
Gỗ xẻ
|
USD/1000 board feet
|
299.00
|
-4.50
|
-1.48%
|
|
Cao su TOCOM
|
JPY/kg
|
237.90
|
+1.60
|
+0.68%
|
|
Ethanol CME
|
USD/gallon
|
2.22
|
-0.01
|
-0.54%
|
(T.H – Reuters, Bloomberg)