Giá lúa tươi ổn định, nguồn cung cuối vụ không còn dồi dào
Tại các tỉnh, thành khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, giá lúa tươi hôm nay không có nhiều thay đổi. Nguồn cung lúa Hè Thu còn ít, trong khi hoạt động mua bán mới diễn ra chậm khiến thị trường chưa hình thành động lực tăng giá rõ rệt.
Theo cập nhật từ Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh An Giang, lúa tươi OM 18 và Đài Thơm 8 tiếp tục được thu mua ở mức 6.200 – 6.400 đồng/kg. Lúa OM 5451 giữ giá 6.000 – 6.200 đồng/kg, IR 50404 ở mức 6.100 – 6.200 đồng/kg, còn OM 34 dao động 5.800 – 6.000 đồng/kg.
Tại An Giang, Đồng Tháp, Tây Ninh, Cần Thơ và Vĩnh Long, giao dịch lúa mới nhìn chung khá trầm lắng, giá tương đối ổn định. Riêng tại Cà Mau, nguồn cung được ghi nhận khá hơn và giá lúa có xu hướng nhích nhẹ.
Gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng nhẹ
Trái với diễn biến ổn định của lúa tươi, một số mặt hàng gạo nguyên liệu xuất khẩu tăng giá trong ngày 15/9. Trong đó, gạo CL 555 tăng 100 đồng/kg, lên 8.750 – 8.850 đồng/kg; IR 504 tăng 50 đồng/kg, đạt 8.650 – 8.750 đồng/kg.
Các loại gạo nguyên liệu chất lượng cao vẫn giữ mặt bằng giá khá tốt. OM 5451 được giao dịch ở 9.300 – 9.400 đồng/kg, Đài Thơm 8 ở 9.200 – 9.400 đồng/kg, OM 18 ở 8.700 – 8.850 đồng/kg. Gạo OM 380 và Sóc thơm cùng duy trì mức 7.500 – 7.600 đồng/kg.
Diễn biến này cho thấy thị trường nguyên liệu đang có sự phân hóa. Trong khi hoạt động mua mới chưa thực sự sôi động, giá một số dòng gạo phổ thông vẫn được nâng lên khi nguồn lúa cuối vụ thu hẹp và doanh nghiệp cân đối nhu cầu thu mua.
Phụ phẩm tăng giá, thị trường bán lẻ tiếp tục đi ngang
Thị trường phụ phẩm cũng ghi nhận điều chỉnh tăng. Tấm thơm 3-4 tăng 200 đồng/kg, lên 8.500 – 8.600 đồng/kg; giá cám tăng 100 đồng/kg, dao động 7.350 – 7.700 đồng/kg.
Trong khi đó, phân khúc nếp gần như không biến động. Nếp 3 tháng khô được giao dịch ở 9.600 – 9.700 đồng/kg, còn nếp IR 4625 tươi ở mức 7.300 – 7.500 đồng/kg.
Tại các chợ bán lẻ, giá gạo tiếp tục ổn định. Gạo Nàng Nhen có mức giá cao nhất, 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg. Gạo Nàng Hoa đạt 21.000 đồng/kg, Sóc Thái 20.000 đồng/kg, trong khi gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 – 22.000 đồng/kg.
Các loại gạo Jasmine được bán ở mức 17.000 – 18.000 đồng/kg; Đài Thơm và OM 18 cùng ở mức 15.500 – 16.500 đồng/kg; gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg. Gạo thường dao động 13.500 – 15.000 đồng/kg, còn Sóc thường ở mức 15.000 – 16.000 đồng/kg.
Giá gạo xuất khẩu Việt Nam ổn định
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam ngày 15/9 chưa ghi nhận thay đổi. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo thơm 5% tấm được chào bán ở 445 – 450 USD/tấn, gạo thơm 100% tấm ở 367 – 371 USD/tấn, trong khi Jasmine đạt 534 – 538 USD/tấn.
So với Việt Nam, gạo 5% tấm của Thái Lan đang được chào ở mức 478 – 482 USD/tấn, cao hơn đáng kể. Giá gạo 100% tấm của Thái Lan ở 374 – 378 USD/tấn.
Tại Pakistan, gạo 5% tấm có giá 408 – 412 USD/tấn, còn tại Ấn Độ, gạo 5% tấm dao động 370 – 374 USD/tấn và gạo 100% tấm ở 306 – 310 USD/tấn.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước vẫn đang trong trạng thái cân bằng. Nguồn cung lúa Hè Thu cuối vụ hạn chế giúp giá lúa giữ được mặt bằng ổn định, trong khi một số loại gạo nguyên liệu và phụ phẩm tăng nhẹ. Về phía xuất khẩu, giá gạo Việt Nam đi ngang và tiếp tục duy trì khả năng cạnh tranh ở nhiều phân khúc. Diễn biến nhu cầu từ các thị trường nhập khẩu lớn cùng kế hoạch chuẩn bị hàng cho các đơn hàng cuối năm sẽ là yếu tố đáng chú ý đối với thị trường trong những tuần tới.
Bảng giá lúa gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long ngày 15/9
|
Mặt hàng
|
Giá (đồng/kg)
|
Thay đổi
|
|
Lúa tươi OM 18
|
6.200 – 6.400
|
Không đổi
|
|
Lúa tươi Đài Thơm 8
|
6.200 – 6.400
|
Không đổi
|
|
Lúa tươi OM 5451
|
6.000 – 6.200
|
Không đổi
|
|
Lúa tươi IR 50404
|
6.100 – 6.200
|
Không đổi
|
|
Lúa tươi OM 34
|
5.800 – 6.000
|
Không đổi
|
|
Gạo nguyên liệu CL 555
|
8.750 – 8.850
|
+100
|
|
Gạo nguyên liệu IR 504
|
8.650 – 8.750
|
+50
|
|
Gạo nguyên liệu OM 5451
|
9.300 – 9.400
|
Không đổi
|
|
Gạo nguyên liệu Đài Thơm 8
|
9.200 – 9.400
|
Không đổi
|
|
Gạo nguyên liệu OM 18
|
8.700 – 8.850
|
Không đổi
|
|
Tấm thơm 3-4
|
8.500 – 8.600
|
+200
|
|
Cám
|
7.350 – 7.700
|
+100
|
|
Nếp 3 tháng khô
|
9.600 – 9.700
|
Không đổi
|
|
Nếp IR 4625 tươi
|
7.300 – 7.500
|
Không đổi
|
Nguồn:Vinanet/VITIC