Sự tăng giá của đồng real Brazil so với đồng USD trong tháng đã làm giảm động lực bán ra của nông dân Brazil. Còn sự tăng giá của đồng EUR đã tạo ra hiệu ứng hỗ trợ bổ sung cho giá cà phê robusta, làm tăng sức mua của người mua châu Âu – chiếm khoảng 60% xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Việc thay thế cà phê arabica bằng robusta đang thúc đẩy việc tái cấu trúc các hỗn hợp rang xay, làm giảm dần nhu cầu arabica trong khi hỗ trợ nhu cầu robusta. Trong 12 tháng qua, tốc độ giảm lượng tồn kho robusta đã vượt xa tốc độ giảm của arabica. Thực tế, việc giá arabica liên tục tăng cao, gần gấp đôi so với giá robusta, ngày càng ảnh hưởng đến các quyết định pha trộn. Các nhà rang xay thương mại có thể thay thế cà phê arabica bằng cà phê robusta trong hỗn hợp của họ, tạo ra nhu cầu gia tăng đối với robusta đồng thời làm giảm nhu cầu đối với arabica. Hiệu ứng thay thế này đã góp phần hỗ trợ và ổn định giá cả trong những tháng cuối tháng.
Giá cà phê bán lẻ tại Mỹ đã tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước vào tháng 1/2026, đưa mức tăng lũy kế 5 năm lên 47%. Áp lực nợ tiêu dùng gia tăng báo hiệu sự suy yếu của nhu cầu mới nổi, thể hiện một tín hiệu giảm giá dài hạn.
Lượng tồn kho cà phê robusta được chứng nhận tại London tháng 2/2026 tăng 0,7%, kết thúc tháng ở mức 0,76 triệu bao. Lượng tồn kho cà phê arabica được chứng nhận tại Mỹ cũng theo xu hướng tương tự, đạt 0,52 triệu bao, tăng 12% so với tháng 1/2026.

Theo Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO), xuất khẩu cà phê toàn cầu đã tăng mạnh trong 4 tháng đầu niên vụ 2025/26, trong đó phân khúc cà phê robusta ghi nhận mức tăng nổi bật. Đáng chú ý, Việt Nam là động lực chính thúc đẩy đà tăng trưởng của nhóm cà phê này.
Tính chung 4 tháng đầu niên vụ cà phê 2025/26 (từ tháng 10/2025 - tháng 1/2026), xuất khẩu cà phê toàn cầu đạt 46,4 triệu bao, tăng 7,5% so với 43,2 triệu bao của cùng kỳ của niên vụ 2024/25.
Xuất khẩu cà phê nhân xanh trong tháng 1/2026 đạt 10,85 triệu bao, tăng 12,7% so với mức 9,63 triệu bao xuất đi trong tháng 1/2025. Trong tháng thứ ba liên tiếp, hiệu quả xuất khẩu của bốn nhóm cà phê có sự khác biệt: xuất khẩu nhóm arabica khác và robusta ghi nhận xu hướng tăng, trong khi arabica Brazil và arabica Colombia lại giảm.
Trong tháng 1/2026, xuất khẩu robusta nhân xanh đạt 5,25 triệu bao, tăng 49,1% so với mức 3,52 triệu bao xuất trong cùng kỳ năm trước. Điều này chủ yếu được hỗ trợ bởi xuất khẩu của Việt Nam tăng 73,3% đạt 3,69 triệu bao. Ngoài ra, Ấn Độ, Indonesia và Uganda cũng đóng góp tích cực, với tổng xuất khẩu của ba nước này tăng 20,4%, đạt 1,2 triệu bao, so với mức 1 triệu bao xuất trong cùng kỳ. Các mức tăng trưởng này bù đắp phần nào cho sự sụt giảm 25% trong xuất khẩu robusta của Brazil, xuống còn 0,18 triệu bao. Xu hướng xuất khẩu giảm từ Brazil và tăng từ Ấn Độ, Indonesia, Uganda và Việt Nam đã tiếp diễn trong bốn tháng liên tiếp đầu niên vụ cà phê 2025/26.
Trong trường hợp của Việt Nam và Brazil, sự thay đổi mạnh so với cùng kỳ năm trước chủ yếu phản ánh sự bình thường hoá hơn là sự chuyển dịch cấu trục: Việt Nam hồi phục trở lại sau sự suy giảm do nguồn cung bất ổn; trong khi Brazil giảm sút so với mức xuất khẩu cao bất thường được ghi nhận từ 3 tháng cuối niên vụ 2022/23 đến 3 tháng đầu niên vụ 2024/25, khi nước này lấp đầy khoảng trống nguồn cung robusta toàn cầu do lượng hàng xuất khẩu từ Indonesia và Việt Nam bị cắt giảm. Brazil đã xuất khẩu 9,37 triệu bao cà phê trong niên vụ 2023/24, cao hơn nhiều so với mức trung bình 5 năm là 3,52 triệu bao. Ngược lại, sự tăng trưởng của Uganda mang tính cấu trúc, với xuất khẩu duy trì xu hướng tăng kể từ giữa niên vụ 2023/24. Lượng hàng xuất khẩu đạt mức kỷ lục 7,32 triệu bao trong niên vụ 2024/25, được hỗ trợ bởi sản lượng tăng, giá quốc tế cao và việc giảm lượng hàng tồn kho. Uganda đã đặt mục tiêu sản lượng chính thức là 20 triệu bao vào năm 2030.
Xuất khẩu nhóm arabica khác cũng tăng mạnh 33,8% trong tháng đầu năm, đạt hơn 1,9 triệu bao. Honduras và Nicaragua là hai động lực chính, với xuất khẩu tăng lần lượt 53% và 108%. Nguyên nhân chính của mức tăng trưởng mạnh trong khu vực là sự chênh lệch thời điểm bắt đầu thu hoạch giữa niên vụ cà phê hiện tại và niên vụ trước. Vụ thu hoạch 2025/26 bắt đầu muộn hơn hai tháng so với thường lệ, do đó làm dịch chuyển lượng hàng xuất khẩu sang kỳ báo cáo hiện tại.
Xuất khẩu cà phê nhân xanh toàn cầu trong 4 tháng đầu niên vụ 2025/26 (tháng 10/2025 - tháng 1/2026)

Xuất khẩu nhóm cà phê arabica Colombia trong tháng 1/2026 đã giảm 19,5% so với cùng kỳ năm ngoái, chỉ đạt 0,99 triệu bao so với mức 1,23 triệu bao cùng kỳ. Điều này đánh dấu tháng sụt giảm thứ ba liên tiếp sau chuỗi 25 tháng tăng trưởng liên tục. Riêng Colombia ghi nhận xuất khẩu giảm 22,1%, còn 0,85 triệu bao, so với mức 1,09 triệu bao trong tháng 1/2025, do nguồn cung trong nước giảm. Trong 15 năm qua (từ niên vụ 2010/11 - 2024/25), trung bình 86,2% sản lượng cà phê của Colombia được xuất khẩu dưới dạng cà phê nhân.
Tương tự, xuất khẩu nhóm cà phê arabica Brazil giảm mạnh 22,2% trong tháng đầu năm, chỉ còn 2,7 triệu bao. Đây đã là tháng thứ 11 liên tiếp nhóm này sụt giảm, chủ yếu do xuất khẩu arabica của Brazil giảm 24,7%, còn 2,3 triệu bao. Sự suy giảm gần đây phản ánh tính chu kỳ trong sản xuất arabica tại Brazil, hiệu ứng nền cao sau mức xuất khẩu kỷ lục của năm được mùa 2023/24 và có thể là cả tác động của việc Mỹ tăng thuế nhập khẩu trong năm 2025.
Nhìn chung, tổng xuất khẩu cà phê arabica toàn cầu trong tháng 1/2026 chỉ đạt 5,59 triệu bao, giảm 8,3% so với mức 6,1 triệu bao trong tháng 1/2025. Theo đó, tỷ trọng arabica trong tổng xuất khẩu cà phê nhân xanh trong 4 tháng đầu niên vụ 2025/26 giảm xuống còn 61,1% từ mức 66,4% cùng kỳ năm trước.
Tỷ trọng arabica trong tổng xuất khẩu cà phê nhân xanh 4 tháng đầu niên vụ 2025/26

Trong 4 tháng đầu niên vụ 2025/26, cà phê nhân xanh chiếm 85,23% tổng xuất khẩu cà phê toàn cầu, trong khi cà phê hòa tan và cà phê rang lần lượt chiếm 14,24% và 0,53%. Đối với cà phê hòa tan, xuất khẩu tháng 1/2026 đã tăng 19,6% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 1,7 triệu bao, so với mức 1,42 triệu bao trong cùng kỳ. Việt Nam, Indonesia và Brazil là những nước xuất khẩu cà phê hòa tan lớn nhất trong tháng 1/2026, lần lượt đạt 0,57 triệu bao, 0,32 triệu bao và 0,27 triệu bao. Trong khi đó, xuất khẩu cà phê đã rang cũng tăng mạnh 56% trong tháng 1, đạt 0,07 triệu bao, so với mức 0,04 triệu bao trong tháng 1/2025.
Xuất khẩu cà phê toàn cầu tất cả các loại cà phê trong tháng 1/2026 đạt 12,62 triệu bao, tăng 13,7% so với mức 11,1 triệu bao trong cùng kỳ năm ngoái. Ba trong bốn khu vực xuất khẩu cà phê chủ chốt tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, trong khi Nam Mỹ là khu vực duy nhất ghi nhận sự sụt giảm.
Xuất khẩu cà phê các loại từ khu vực châu Á và châu Đại Dương đạt 5,87 triệu bao, tăng 54,4% so với mức 3,8% trong cùng kỳ năm ngoái và vượt qua khu vực Nam Mỹ dẫn đầu về xuất khẩu cà phê toàn cầu trong tháng 1/2026.
Mức tăng trưởng hai chữ số của khu vực được dẫn đầu bởi Việt Nam, với xuất khẩu tăng 67%, đạt 4,33 triệu bao. Đây cũng là khối lượng xuất khẩu cao nhất trong các tháng 1 kể từ trước đến nay, cao hơn 7,9% so với kỷ lục trước đó là 4,01 triệu bao được ghi nhận vào tháng 1/2024.
Dự báo sản lượng cà phê lớn hơn trong niên vụ 2025/26, với kỳ vọng thị trường tăng từ 6–12% so với niên vụ 2024/25, là động lực chính thúc đẩy xuất khẩu kỷ lục của Việt Nam.
Ấn Độ và Indonesia cũng góp phần vào tăng trưởng hai chữ số của khu vực, với tổng xuất khẩu của hai nước tăng 21,6%, đạt 1,35 triệu bao.
Xuất khẩu cà phê của các khu vực trong 4 tháng đầu niên vụ 2025/26

Xuất khẩu cà phê các loại từ khu vực châu Phi cũng tăng 15,3% trong tháng 1/2026, đạt 1,27 triệu bao, so với mức 1,1 triệu bao trong cùng kỳ. Sự gia tăng này chủ yếu được thúc đẩy bởi Uganda, khi xuất khẩu của nước này tăng 25,1%, đạt khoảng 0,69 triệu bao, so với mức 0,55 triệu bao của cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu của Uganda đã tăng mạnh kể từ giữa niên vụ 2023/24 và lần đầu tiên vượt mốc 7–8 triệu bao trong niên vụ 2024/25, khi đạt 8,26 triệu bao. Tăng trưởng này chủ yếu đến từ sự cải thiện về sản lượng thu hoạch, đồng thời cũng là yếu tố góp phần thúc đẩy đà tăng xuất khẩu trong thời gian gần đây. Trong niên vụ cà phê 2025/26, sản lượng của Uganda được dự kiến sẽ tiếp tục tăng, với một số ước tính cho thấy mức tăng trưởng khoảng hơn 10%.
Xuất khẩu tất cả các loại cà phê của Nam Mỹ giảm 21,3% trong tháng 1/2026, xuống còn 4 triệu bao từ mức 5,08 triệu bao trong tháng 1/2025. Đây là mức giảm lần thứ 15 liên tiếp sau chuỗi 16 tháng tăng trưởng tích cực. Sự suy giảm chủ yếu do Brazil gây ra, với tổng lượng xuất khẩu giảm 25,5% xuống còn 2,81 triệu bao từ mức 3,77 triệu bao trong cùng kỳ.
Xuất khẩu cà phê của Colombia trong tháng 1/2026 giảm 19,4% xuống còn 0,94 triệu bao, từ mức 1,16 triệu bao trong cùng kỳ năm ngoái. Đây là tháng thứ hai liên tiếp xuất khẩu của Colombia giảm, nguyên nhân chính là do sản lượng giảm. Liên đoàn Cà phê Quốc gia Colombia báo cáo rằng, sản lượng tháng 1/2026 giảm xuống còn 0,89 triệu bao từ 1,36 triệu bao trong tháng 1/2025, giảm 34,1%.
Xuất khẩu cà phê từ khu vực Trung Mỹ và Mexico trong tháng đầu năm 2026 cũng không nằm ngoài xu hướng chung, với mức tăng 33,5%, đạt 1,48 triệu bao, so với mức 1,11 triệu bao trong cùng kỳ năm 2025. Tăng trưởng gần đây của khu vực được thúc đẩy bởi Honduras và Nicaragua, khi xuất khẩu tăng lần lượt 53% và 101,5%, đạt 0,56 triệu bao và 0,33 triệu bao, so với mức 0,37 triệu bao và 0,17 triệu bao trong tháng 1/2025.
Hầu hết khu vực Mexico và Trung Mỹ đều chịu ảnh hưởng của hạn hán diện rộng từ tháng 1 - giữa tháng 6/2024, kèm theo các đợt nắng nóng gay gắt vào tháng 5/2024, được cho là đã ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình ra hoa. Tiếp theo đó là lượng mưa quá mức từ tháng 7/2024, bao gồm cả tháng 11/2024 do bão nhiệt đới Sara, làm chậm quá trình chín và đẩy thời điểm bắt đầu vụ thu hoạch cà phê niên vụ 2024/25 sang tháng 1/2026, muộn hơn hai tháng so với thời điểm bắt đầu điển hình là tháng 10.
Trái ngược với sự chậm trễ của niên vụ trước, niên vụ cà phê 2025/26 đã bắt đầu thu hoạch đúng tiến độ vào tháng 10. Thông thường, giữa thời điểm bắt đầu thu hoạch và việc xuất khẩu các lô hàng đầu tiên có độ trễ khoảng 2–3 tháng. Vì vậy, khu vực này – đặc biệt là Honduras và Nicaragua – đã ghi nhận mức tăng trưởng xuất khẩu hai chữ số, phản ánh sự chênh lệch về thời điểm cung ứng giữa hai niên vụ cà phê.
Nguồn:Vinanet/VITIC/ICO