Sự sụt giảm tổng lượng xuất khẩu chủ yếu xuất phát từ những biến động tại các thị trường là Pakistan thị trường xuất khẩu lớn nhất về lượng nhưng ghi nhận mức giảm kỷ lục 60,82% về lượng và 59,82% về trị giá, đạt 11.902 tấn vơi 23,43 triệu USD. Tương tự, xuất khẩu sang Iraq, giảm 54,69%, Indonesia giảm 32,98%, Ấn Độ giảm 32,25% và Trung Quốc giảm 21,01%... cũng sụt giảm mạnh về lượng.
Các thị trường ghi nhận sự tăng trưởng khá như: Xuất khẩu sang khu vực EVFTA tăng 26,48% về lượng và tăng tới 69,96% về trị giá (đạt 1,9 triệu USD), trong đó Đức là điểm sáng nổi bật khi lượng xuất khẩu tăng 75,81% và trị giá tăng 90,52% nhờ mức giá trung bình cao vượt trội đạt 5.723,94 USD/tấn. Thị trường Hoa Kỳ cũng tăng trưởng mạnh mẽ với lượng tăng 21,94% và trị giá tăng 36,44% (đạt 7,63 triệu USD)... Sự bứt phá tại các thị trường này phản hưởng sự dịch chuyển hiệu quả của doanh nghiệp Việt Nam hướng tới dòng sản phẩm chè chất lượng cao, chè chế biến sâu, đáp ứng tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng và tận dụng tốt ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do. Ngoài ra, xuất khẩu sang Nga cũng tăng 22,59% về lượng, Thổ Nhĩ Kỳ tăng mạnh tăng tới 272,04% về lượng và Ả Rập Xê Út tăng13,99% về lượng… cũng tăng trưởng khả quan nhờ nhu cầu tiêu thụ ổn định và nỗ lực khai thác thị trường ngách.
Cơ cấu thị trường xuất khẩu chè của Việt Nam trong 8 tháng năm 2026 (% tính theo kim ngạch, đvt: USD)
 |
|
VITIC tính toán số liệu từ Cục Hải quan
|
Xuất khẩu chè của Việt Nam sẽ tiếp tục xu hướng "giảm lượng, tăng chất" trong những tháng cuối năm. Nhờ các đợt cao điểm lễ Tết cuối năm tại nhiều quốc gia, nhu cầu tiêu thụ chè tại các thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ và Đông Á dự kiến tăng mạnh. Nếu duy trì tốt đà tăng giá và tiêu chuẩn chất lượng, tổng trị giá xuất khẩu chè cả năm 2026 hoàn toàn có thể đạt mức tăng trưởng dương so với năm 2025. Tuy nhiên, doanh nghiệp cần chủ động đa dạng hóa thị trường, đẩy mạnh chế biến sâu và cải thiện khâu kiểm soát an toàn thực phẩm để khắc phục sự suy giảm tại các thị trường truyền thống.
Nguồn:Vinanet/VITIC