menu search
Đóng menu
Đóng

Thị trường lúa gạo ngày 27/7: Giá lúa gạo Đồng bằng sông Cửu Long ổn định, gạo Jasmine bán lẻ tăng nhẹ

09:23 27/07/2026

Thị trường lúa gạo tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong ngày 27/7 ghi nhận diễn biến tương đối ổn định khi mặt bằng giá duy trì đi ngang ở hầu hết các phân khúc. Nguồn cung sau giai đoạn thu hoạch rộ không còn dồi dào như trước, góp phần giữ giá ở trạng thái cân bằng, trong khi giao dịch mua bán diễn ra đều nhưng chưa có đột biến.
 
Ở kênh bán lẻ, điểm đáng chú ý là mặt hàng gạo Jasmine điều chỉnh tăng khoảng 1.000 đồng/kg, lên mức phổ biến 17.000 – 18.000 đồng/kg. Đây là diễn biến hiếm hoi trong bối cảnh phần lớn các chủng loại gạo tiêu dùng khác vẫn giữ nguyên giá so với cuối tuần. Hiện gạo Nàng Nhen tiếp tục duy trì mức cao nhất khoảng 28.000 đồng/kg; gạo Hương Lài và gạo Nhật cùng ở mức 22.000 đồng/kg; gạo thơm Thái hạt dài dao động 20.000 – 22.000 đồng/kg; gạo Nàng Hoa giữ ở mức 21.000 đồng/kg. Nhóm gạo phổ thông ổn định với gạo trắng thông dụng khoảng 16.000 đồng/kg, gạo thường dao động 13.000 – 14.000 đồng/kg và gạo Sóc phổ biến 15.000 – 16.000 đồng/kg.
Đối với phân khúc gạo nguyên liệu phục vụ xuất khẩu, giá tiếp tục đi ngang do lượng hàng về kho chưa có biến động lớn. Cụ thể, gạo nguyên liệu IR 504 dao động 9.500 – 9.600 đồng/kg; CL 555 ở mức 9.700 – 9.800 đồng/kg – cao nhất trong nhóm. Các dòng OM 5451 và Đài Thơm 8 cùng duy trì quanh mức 9.200 – 9.400 đồng/kg, trong khi OM 18 ở mức 8.700 – 8.850 đồng/kg. Hai dòng OM 380 và Sóc thơm giữ mức thấp hơn, khoảng 7.500 – 7.600 đồng/kg. Nhóm phụ phẩm cũng ổn định, với tấm thơm 8.300 – 8.400 đồng/kg và cám dao động 7.900 – 8.050 đồng/kg.
Trên thị trường lúa tươi, giao dịch có sự phân hóa nhẹ giữa các địa phương nhưng nhìn chung vẫn giữ mặt bằng giá ổn định. Lúa Đài Thơm 8 tiếp tục dẫn đầu nhóm lúa thơm với giá 6.850 – 7.000 đồng/kg; lúa OM 18 dao động 6.800 – 7.000 đồng/kg. Các dòng OM 5451 và OM 34 lần lượt ở mức 6.200 – 6.400 đồng/kg và 6.100 – 6.300 đồng/kg, trong khi lúa IR 50404 giữ quanh 6.100 – 6.200 đồng/kg. Phân khúc nếp không có biến động, với nếp IR 4625 tươi 7.300 – 7.500 đồng/kg và nếp khô 9.600 – 9.700 đồng/kg.
Trên thị trường xuất khẩu, giá gạo Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định. Theo Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA), gạo Jasmine được chào bán ở mức 546 – 550 USD/tấn; gạo thơm 5% tấm dao động 500 – 510 USD/tấn; gạo 100% tấm giữ ở mức 353 – 357 USD/tấn. So với các đối thủ trong khu vực, gạo Việt Nam vẫn duy trì lợi thế cạnh tranh rõ rệt ở phân khúc chất lượng cao. Cụ thể, gạo 5% tấm của Thái Lan đang ở mức 445 – 449 USD/tấn, trong khi Ấn Độ thấp hơn, khoảng 361 – 365 USD/tấn.
Về tổng thể, thị trường toàn cầu hiện giao dịch khá thận trọng khi các nhà nhập khẩu vẫn theo dõi diễn biến cung – cầu. Trong bối cảnh đó, giá gạo Việt Nam được dự báo sẽ tiếp tục duy trì xu hướng ổn định trong ngắn hạn, trước khi xuất hiện lực mua rõ nét hơn từ các thị trường truyền thống vào giai đoạn cuối năm.
Theo số liệu từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Công Thương, tính đến giữa tháng 7/2026, Việt Nam đã xuất khẩu khoảng 5,3 triệu tấn gạo, đạt kim ngạch 2,52 tỷ USD, tăng 6,5% về khối lượng so với cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân 6 tháng đầu năm chỉ đạt khoảng 460 USD/tấn, giảm hơn 11% so với cùng kỳ năm 2025. Philippines tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm khoảng 45% tổng kim ngạch, tiếp theo là Trung Quốc và Ghana.
Nhìn chung, thị trường lúa gạo trong nước đang ở trạng thái cân bằng với biên độ biến động hẹp, trong khi điểm nhấn ngắn hạn chủ yếu đến từ kênh bán lẻ. Xu hướng này nhiều khả năng sẽ tiếp tục duy trì trong thời gian tới nếu chưa xuất hiện các yếu tố cung – cầu đột biến.

Nguồn:Vinanet/VITIC