Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung chủ yếu đối với điện thoại và linh kiện nhập khẩu của Việt Nam. Tháng 7/2026, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 745,18 triệu USD, giảm 2,88% so với tháng 6 và giảm 2,25% so với cùng kỳ, chiếm tới 76,98% tổng kim ngạch nhập khẩu trong tháng. Lũy kế 7 tháng đạt 4,75 tỷ USD, giảm 7,44%, chiếm 81,60% tổng kim ngạch nhập khẩu, thấp hơn mức 87,37% của cùng kỳ năm 2025.
Việc kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 7,44% trong khi tổng nhập khẩu điện thoại và linh kiện chỉ giảm 0,88% cho thấy mức độ phụ thuộc vào nguồn cung Trung Quốc đã có sự cải thiện nhất định. Tỷ trọng giảm gần 5,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước là tín hiệu tích cực bước đầu trong quá trình đa dạng hóa nguồn cung. Tuy nhiên, với tỷ trọng vẫn trên 80%, Trung Quốc vẫn giữ vai trò áp đảo và bất kỳ biến động nào về giá cả, logistics, chính sách thương mại hoặc nguồn cung tại thị trường này đều có thể tác động đáng kể tới hoạt động sản xuất điện thoại trong nước.
Hàn Quốc là thị trường cung cấp lớn thứ hai, với kim ngạch nhập khẩu tháng 7 đạt 46,75 triệu USD, giảm 20,62% so với tháng trước và giảm 11,49% so với cùng kỳ. Tính chung 7 tháng, nhập khẩu đạt 264,36 triệu USD, tăng 16,94%, đưa tỷ trọng lên 4,54%, so với 3,85% cùng kỳ năm 2025. Như vậy, mặc dù nhập khẩu từ Hàn Quốc giảm trong tháng 7, tính chung 7 tháng vẫn duy trì mức tăng khá cao. Điều này cho thấy nguồn cung từ Hàn Quốc đang có xu hướng gia tăng vai trò trong chuỗi cung ứng điện tử của Việt Nam.
Đài Loan có mức tăng trưởng nhập khẩu khá cao nhưng quy mô còn nhỏ. Tháng 7 nhập khẩu đạt 6,36 triệu USD, tăng 60,21% so với cùng kỳ nhưng giảm 17,50% so với tháng 6. Lũy kế 7 tháng đạt 24,41 triệu USD, tăng 59,30%, đưa tỷ trọng lên 0,42%, so với 0,26% cùng kỳ. Mức tăng trưởng cao của Đài Loan cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước mở rộng nguồn cung linh kiện từ các trung tâm sản xuất điện tử khác trong khu vực.
Đáng chú ý, Hồng Kông có mức biến động rất lớn. Nhập khẩu tháng 7 chỉ đạt 0,06 triệu USD, giảm 98,09% so với tháng trước và giảm 58,23% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lũy kế 7 tháng đạt 4,65 triệu USD, tăng tới 1.105,82%, dù tỷ trọng mới chỉ 0,08%. Mức tăng rất cao này xuất phát từ nền kim ngạch thấp, do đó chưa tạo ảnh hưởng đáng kể đến tổng nhập khẩu.
Một số nguồn cung khác như Nhật Bản và Hoa Kỳ có kim ngạch rất nhỏ. Nhập khẩu từ Nhật Bản 7 tháng đạt 2,83 triệu USD, tăng 44,34%, trong khi nhập khẩu từ Hoa Kỳ đạt 0,36 triệu USD, tăng 77,89%. Tuy nhiên, do quy mô nhỏ, các thị trường này chưa có vai trò đáng kể đối với tổng nguồn cung điện thoại và linh kiện của Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, Ấn Độ là thị trường có xu hướng giảm mạnh. Nhập khẩu 7 tháng đạt 2,48 triệu USD, giảm tới 74,99%, khiến tỷ trọng giảm từ 0,17% xuống 0,04%. Diễn biến này cho thấy nguồn cung từ Ấn Độ hiện chưa ổn định và chưa thể trở thành nguồn thay thế đáng kể cho Trung Quốc.
Nhìn chung, cơ cấu nhập khẩu điện thoại và linh kiện đang có sự dịch chuyển theo hướng giảm dần tỷ trọng Trung Quốc và tăng vai trò của Hàn Quốc, Đài Loan, mặc dù mức độ tập trung nguồn cung vẫn rất cao. Tỷ trọng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm từ 87,37% xuống 81,60%, trong khi Hàn Quốc tăng từ 3,85% lên 4,54% và Đài Loan tăng từ 0,26% lên 0,42%. Đây là xu hướng tích cực đối với việc đa dạng hóa chuỗi cung ứng, song cần tiếp tục được đẩy mạnh để hạn chế rủi ro phụ thuộc vào một nguồn cung duy nhất.
Thị trường nhập khẩu điện thoại và linh kiện trong tháng 7 và 7 tháng năm 2026
 |
|
VITIC tính toán từ số liệu của Cục Hải quan
|
Nguồn:Vinanet/VITIC