Về xuất khẩu: Theo số liệu thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, kim ngạch xuất khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam trong tháng 7/2026 đạt 13,98 tỷ USD, giảm 6,41% so với tháng trước nhưng vẫn tăng mạnh 55,33% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 85,17 tỷ USD, tăng 50,18% so với cùng kỳ năm trước.
Kim ngạch xuất khẩu máy tính và linh kiện điện tử (ĐVT: triệu USD)
 |
|
VITIC tính toán từ số liệu của Cục Hải quan
|
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất trong 7 tháng, xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt 33,57 tỷ USD, tăng 50,97%, chiếm 39,42% tổng kim ngạch xuất khẩu máy tính và linh kiện. Trung Quốc đứng thứ hai, đạt 14,31 tỷ USD, tăng 50,20%, chiếm 16,81%; trong khi Hồng Kông đạt 7,89 tỷ USD, tăng 37,84%, chiếm 9,27%. Như vậy, riêng ba thị trường này chiếm khoảng 65,5% tổng kim ngạch, cho thấy xuất khẩu vẫn tập trung khá lớn vào một số thị trường chủ lực.
Thị trường EU tiếp tục có diễn biến tích cực, trong 7 tháng, xuất khẩu sang EU đạt 7,75 tỷ USD, tăng 59,94%, chiếm 9,10% tổng kim ngạch. Trong EU, Hà Lan là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 2,69 tỷ USD, tăng 53,20%; Đức đạt 1,33 tỷ USD, tăng 105,89%; Séc tăng 105,46%; Hungary tăng 132,18% và Italy tăng 88,72%. Kết quả này cho thấy nhu cầu tại thị trường châu Âu đang tăng khá mạnh, đồng thời dư địa mở rộng xuất khẩu máy tính và linh kiện của Việt Nam tại EU còn tương đối lớn.
Khu vực ASEAN cũng nổi lên là thị trường tăng trưởng nhanh. Trong 7 tháng năm 2026, xuất khẩu máy tính và linh kiện sang ASEAN đạt 4,59 tỷ USD, tăng 86,58%, chiếm 5,39% tổng kim ngạch. Trong đó, xuất khẩu sang Thái Lan đạt 1,86 tỷ USD, tăng 112,46%; Singapore đạt 1,46 tỷ USD, tăng 78,96%; Malaysia đạt 932,72 triệu USD, tăng 86,31%.
Bên cạnh các thị trường chủ lực, nhiều thị trường khác cũng ghi nhận mức tăng trưởng cao, góp phần mở rộng không gian xuất khẩu. Trong 7 tháng, xuất khẩu sang Mexico tăng tới 161,15%, Anh tăng 116,66%, Đài Loan tăng 89,51%, Nhật Bản tăng 61,09%, Australia tăng 77,87% và Canada tăng 44,52%. Đặc biệt, một số thị trường có quy mô còn nhỏ nhưng tốc độ tăng rất cao như Ả Rập Xê Út tăng 109,57%, Colombia tăng 135,99%, Peru tăng 256,76% và Chile tăng 91,61%. Đây là tín hiệu tích cực cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang từng bước mở rộng sang các thị trường ngoài các trung tâm xuất khẩu truyền thống.
Về nhập khẩu: Theo số liệu thống kê sơ bộ, kim ngạch nhập khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện của Việt Nam trong tháng 7/2026 đạt 25,33 tỷ USD, tăng 17,21% so với tháng trước và tăng mạnh 83,08% so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế 7 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này đạt 135,8 tỷ USD, tăng 66,05% so với cùng kỳ năm trước.
Kim ngạch nhập khẩu máy tính và linh kiện điện tử (ĐVT: triệu USD)
 |
|
VITIC tính toán từ số liệu của Cục Hải quan
|
Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung lớn nhất, trong 7 tháng, nhập khẩu từ Trung Quốc đạt 49,45 tỷ USD, tăng 72,97%, chiếm 36,42% tổng kim ngạch, tăng so với mức 34,93% của cùng kỳ năm 2025. Hàn Quốc đứng thứ hai đạt 36,76 tỷ USD, tăng 78%, chiếm 27,07%; tiếp đến là Đài Loan đạt 22,15 tỷ USD, tăng 74,77%, chiếm 16,31%. Như vậy, riêng ba thị trường Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan đã chiếm khoảng 79,8% tổng kim ngạch nhập khẩu máy tính và linh kiện của Việt Nam, cho thấy mức độ tập trung nguồn cung rất cao.
Nhìn chung, nhập khẩu máy tính và linh kiện trong 7 tháng năm 2026 tăng rất mạnh và cao hơn đáng kể tốc độ tăng xuất khẩu, phản ánh sự mở rộng nhanh của sản xuất điện tử nhưng đồng thời cũng cho thấy mức độ phụ thuộc lớn vào nguồn linh kiện, thiết bị và nguyên liệu nhập khẩu. Đặc biệt, gần 80% kim ngạch nhập khẩu đến từ Trung Quốc, Hàn Quốc và Đài Loan, khiến chuỗi cung ứng của ngành điện tử Việt Nam dễ chịu tác động khi có biến động về giá, logistics, thương mại hoặc nguồn cung tại các thị trường này. Vì vậy, thời gian tới cần đẩy mạnh phát triển công nghiệp hỗ trợ điện tử, bán dẫn và sản xuất linh kiện trong nước, tăng tỷ lệ nội địa hóa, đồng thời đa dạng hóa nguồn cung từ Nhật Bản, EU, ASEAN và các thị trường khác nhằm nâng cao tính tự chủ và sức chống chịu của ngành điện tử Việt Nam.
Nguồn:Vinanet/VITIC