Theo báo cáo bán niên mới đây của USDA, sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2025/26 được dự báo tăng 3,5 triệu bao so với niên vụ trước, đạt mức kỷ lục 178,8 triệu bao (loại 60kg), nhờ sự phục hồi liên tục tại Việt Nam cùng sản lượng đạt mức cao kỷ lục ở Indonesia và Ethiopia, bù đắp cho mức sụt giảm dự kiến tại Brazil và Colombia.
Trong đó, sản lượng robusta dự kiến tăng 10,9% so với niên vụ trước, đạt mức kỷ lục 83,3 triệu tấn. Ngược lại, arabica giảm 4,7%, xuống còn 95,5 triệu bao.
Mức tiêu thụ cà phê toàn cầu cũng được USDA dự báo tiếp tục tăng lên mức kỷ lục mới 173,9 triệu bao, tăng 2,3 triệu bao so với niên vụ trước. Sự tăng trưởng này đến từ hầu hết các thị trường tiêu thụ hàng đầu như Liên minh châu Âu (tăng 659.000 bao), Mỹ (tăng 330.000 bao), Brazil (tăng 310.000 bao), Philippines (tăng 560.000 bao).
Tuy nhiên, lượng tồn kho cuối kỳ được dự kiến sẽ giảm năm thứ 5 liên tiếp, xuống chỉ còn 20,1 triệu bao. Theo đó, giá cà phê – được đo lường bằng chỉ số giá tổng hợp hàng tháng của Tổ chức Cà phê Quốc tế (ICO) – đã tăng gần gấp ba lần trong giai đoạn này. Điều này cho thấy dù giá tăng mạnh trong những năm qua nhưng nhu cầu tiêu thụ vẫn cao.
Trong khi đó, xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu được USDA dự báo tăng 2,3 triệu bao (tương đương 1,9%), lên 123,8 triệu bao, nhờ sự tăng trưởng từ Việt Nam, Indonesia và Honduras, bù đắp cho sự sụt giảm từ Brazil và Colombia. Cùng với đó, nhập khẩu của EU dự kiến tăng mạnh 800.000 bao, Mỹ tăng 400.000 bao, Nhật Bản và Nga tăng lần lượt 185.000 bao và 100.000 bao.
Indonesia
Sản lượng cà phê robusta của Indonesia trong niên vụ 2025/26 được dự báo tăng 1,7 triệu bao (loại 60kg) đạt 11 triệu bao, nhờ năng suất cải thiện do thời tiết thuận lợi và việc sử dụng lao động hiệu quả hơn trong mùa thu hoạch. Kể từ niên vụ 2000/01 Indonesia đã trở thành quốc gia sản xuất robusta lớn thứ ba thế giới sau Việt Nam và Brazil, khi hai nước này bắt đầu mở rộng mạnh sản lượng. Trong khi đó, sản lượng cà phê arabica của Indonesia được dự báo tăng nhẹ đạt 1,5 triệu bao, xếp sau 9 quốc gia sản xuất khác.
Trong 10 năm qua, tổng diện tích trồng cà phê của Indonesia vẫn ổn định, với ước tính vào khoảng 1,2 triệu hecta và không có sự mở rộng đáng kể nào được dự kiến trong tương lai gần. Đảo Sumatra chiếm khoảng 75% tổng sản lượng cà phê của Indonesia, với robusta chiếm ưu thế ở khu vực phía Nam và sản lượng nhỏ arabica ở phía Bắc.
Hơn 95% sản lượng của Indonesia đến từ các hộ trồng cà phê có diện tích canh tác trung bình khoảng 1 hecta, trong đó phần lớn không sử dụng phân bón hay các đầu vào khác để tăng năng suất. Người trồng chủ yếu dựa vào lao động gia đình cho các hoạt động ngoài thu hoạch như tỉa cành, trong khi các hình thức huy động lao động theo tổ, nhóm hợp tác thường được sử dụng trong mùa thu hoạch.
Indonesia được dự báo sẽ tăng xuất khẩu cà phê nhân thêm 1,7 triệu bao, đạt 7,8 triệu bao trong niên vụ 2025/26 nhờ nguồn cung dồi dào hơn, với các thị trường chính gồm Liên minh châu Âu (EU), Mỹ và Ai Cập. Trong khi EU là điểm đến lớn nhất đối với cà phê robusta, thì Mỹ là thị trường chủ lực cho cà phê arabica. Xuất khẩu cà phê hòa tan được dự báo giảm gần 100.000 bao, xuống còn 1 triệu bao, với các thị trường chính gồm Philippines, Malaysia và Nga.
Brazil
Tổng sản lượng thu hoạch arabica và robusta của Brazil trong niên vụ 2025/26 được dự báo giảm 2 triệu bao so với niên vụ trước, xuống còn 63 triệu bao. Trong đó, sản lượng arabica dự kiến giảm 6 triệu bao, còn 38 triệu bao, do hạn hán và nhiệt độ cao tại Minas Gerais và São Paulo đã ảnh hưởng xấu đến quá trình ra hoa cũng như đậu quả và phát triển trái. Ngược lại, sản lượng robusta được kỳ vọng tăng 4 triệu bao, đạt mức kỷ lục 25 triệu bao, nhờ lượng mưa thuận lợi hỗ trợ quá trình phát triển trái cà phê tại các bang sản xuất chính là Espírito Santo và Bahia. Nguồn cung sẵn có giảm dự kiến sẽ làm giảm xuất khẩu cà phê nhân 4 triệu bao, xuống còn 37 triệu bao.
Việt Nam
Sản lượng cà phê của Việt Nam được dự báo tiếp tục phục hồi, đạt 30,8 triệu bao nhờ năng suất cao hơn do điều kiện thời tiết thuận lợi. Giá cà phê cao hơn cho phép người trồng tăng chi phí cho phân bón và các yếu tố đầu vào khác để nâng cao năng suất. Diện tích thu hoạch được dự kiến gần như không thay đổi, trong đó gần 95% tổng sản lượng vẫn là cà phê robusta. Xuất khẩu cà phê nhân được dự báo tăng 2,3 triệu bao, đạt 24,6 triệu bao nhờ nguồn cung tăng.
Colombia
Sản lượng cà phê của Colombia được dự báo giảm 1 triệu bao, xuống còn 13,8 triệu bao trong niên vụ 2025/26, do mưa lớn kéo dài và mây che phủ đã làm gián đoạn giai đoạn ra hoa, dẫn đến năng suất thấp hơn. Mặc dù các điều kiện này thuận lợi cho bệnh gỉ sắt lá cà phê phát triển, nhưng tỷ lệ phát hiện bệnh nhìn chung tương đối thấp nhờ sự hiện diện của các giống kháng bệnh. Xuất khẩu cà phê nhân của Colombia, chủ yếu sang Mỹ và Liên minh châu Âu, được dự báo giảm 700.000 bao, xuống còn 11,5 triệu bao do sản lượng sụt giảm.
Ethiopia
USDA dự báo sản lượng cà phê của Ethiopia tăng 500.000 bao trong niên vụ 2025/26, đạt mức kỷ lục 11,6 triệu bao. Trong 3 năm qua, tăng trưởng chủ yếu được thúc đẩy bởi việc thay thế hơn một nửa diện tích canh tác bằng các giống cà phê có năng suất cao hơn. Người trồng cà phê cũng được khuyến khích cải thiện năng suất thông qua việc cắt tỉa cây sau thu hoạch. Xuất khẩu cà phê nhân của Ethiopia được dự báo tăng 400.000 bao, lên 7,8 triệu bao nhờ nguồn cung tăng.
Sản lượng cà phê tại Trung Mỹ và Mexico dự kiến tăng 1,1 triệu bao, đạt 17,6 triệu bao, chủ yếu nhờ sự phục hồi sản lượng tại Honduras và ở mức độ thấp hơn là Guatemala. Honduras chiếm khoảng 1/3 tổng sản lượng của khu vực. Xuất khẩu cà phê nhiều hơn từ các quốc gia này được dự báo sẽ thúc đẩy tổng xuất khẩu của toàn khu vực tăng thêm 1 triệu bao, lên 14,4 triệu bao.
Điều chỉnh ước tính mùa vụ 2024/25
Bên cạnh việc đưa ra dự báo cho vụ mùa 2025/26, USDA cũng điều chỉnh ước tính sản lượng cà phê toàn cầu trong niên vụ 2024/25 với mức giảm 900.000 bao so với ước tính tháng 6/2025, xuống còn 175,3 triệu bao.
Theo đó, sản lượng của Colombia được điều chỉnh tăng 1,6 triệu bao, đạt 14,8 triệu bao, nhờ năng suất cao hơn do lượng mưa bổ sung làm tăng trọng lượng của hạt cà phê.
Bờ Biển Ngà điều chỉnh giảm 600.000 bao, xuống còn 650.000 bao do năng suất thấp hơn.
Nhập khẩu cà phê nhân toàn cầu được điều chỉnh tăng 3 triệu bao, lên 118,3 triệu bao trong niên vụ 2024/25.
Liên minh châu Âu được điều chỉnh tăng 800.000 bao, đạt 46,2 triệu bao do tiêu thụ cao hơn. Tương tự, nhập khẩu cà phê của Mỹ tăng 600.000 bao, đạt 23,4 triệu bao.
Nguồn:Vinanet/VITIC/USDA