Trên thị trường năng lượng, giá dầu Brent và dầu WTI diễn biến trái chiều do tác động từ những yếu tố cơ bản. Đóng cửa phiên giao dịch, dầu thô ngọt nhẹ (WTI) trên sàn New York tăng 6 US cent lên 49,62 USD/thùng, trong khi giá dầu Brent Biển Bắc tại London giảm 21 US cent xuống còn 51,82 USD/thùng.
Đầu phiên giao dịch, giá dầu nhận được hỗ trợ khi Bộ trưởng Năng lượng Saudi Arabia Khalid al-Falih bày tỏ quan tâm đối với cuộc đàm phán giữa các nước trong và ngoài Tổ chức Các nước Xuất khẩu Dầu mỏ (OPEC) nhằm bình ổn giá dầu. OPEC dự kiến sẽ nhóm họp vào tháng Năm tới để thảo luận về việc gia hạn thỏa thuận cắt giảm sản lượng.
Tuy nhiên, Bộ Năng lượng Mỹ cho biết lượng dầu thô dự trữ của nước này giảm 3,6 triệu thùng trong tuần trước, cao hơn gấp hai lần so với con số dự đoán. Giới phân tích cảnh báo rằng nhu cầu xăng dầu của Mỹ yếu có thể ảnh hưởng đến giá dầu thô trong những tuần tới.
Số liệu của Viện Xăng dầu Mỹ (API) cũng cho thấy, lượng dầu dự trữ tại các kho ở nước này đã tăng 897.000 thùng trong tuần kết thúc ngày 21/4, trái ngược so với dự báo giảm 1,7 triệu thùng. Thêm vào đó, dự trữ xăng cũng ở mức cao bất thường đối với thời điểm này trong năm.
Ngày 26/4, Ngân hàng Thế giới (WB) công bố báo cáo trong đó dự báo giá dầu năm 2017 giữ nguyên ở mức 55 USD/thùng như dự báo hồi tháng 1 (cao hơn 25,7% so với giá năm 2016), trong khi giá cả các sản phẩm thuộc lĩnh vực năng lượng sẽ tăng 26% trong năm 2017 và 8% trong năm tới.
Theo WB, giá dầu sẽ tăng 8,2% - lên 60 USD/thùng - vào năm 2018, nhờ các biện pháp cắt giảm sản lượng của Tổ chức các quốc gia xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) và các quốc gia khác ngoài khối này. Tuy nhiên, WB cho biết mức dự báo có thể thay đổi tùy thuộc vào diễn biến phục hồi của hoạt động khai thác dầu đá phiến của Mỹ.
Trên thị trường kim loại quý, giá vàng hồi phục từ mức thấp nhất trong 2 tuần do hoạt động mua vào của các nhà đầu tư sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump đề xuất cắt giảm thuế cho khối doanh nghiệp.
Giá vàng giao ngay có thời điểm rơi xuống 1.259,90 USD/ounce, mức thấp nhất kể từ ngày 11/4/2017, trước khi tăng 0,3% và phục hồi về mức 1.266,81 USD/ounce lúc cuối phiên; vàng giao tháng 6/2017 giảm 0,2%, đóng phiên ở mức 1.264,20 USD/ounce.
Ngày 26/4, trong quyết định nhằm hiện thực hóa một trong những cam kết tranh cử đáng chú ý nhất, Tổng thống Mỹ Donald Trump đã công bố gói đề xuất cắt giảm thuế lớn nhất trong lịch sử đánh vào doanh nghiệp và cá nhân.
Chuyên gia Tai Wong thuộc BMO Capital Markets tại New York (Mỹ) nhận định giá vàng đã nhận được hỗ trợ, giữa những lo ngại chương trình cắt giảm thuế sẽ làm phình to thâm hụt ngân sách.
Về nông sản, giá đường giảm mạnh xuống mức thấp nhất 1 năm thu hút khối lượng giao dịch tăng mạnh.
Đường thô giao tháng 7 giá giảm 0,71 US cent hay 4,4% xuống 15,57 US cent/lb, trong phiên có lúc giá xuống 15,52 US cent, thấp nhất kể từ 28/4/2016. Đường trắng giao tháng 8 giá giảm 15,7 USD hay 3,4% xuống 453,30 USD/tấn.
Các thương gia cho biết thị trường bị ản hưởng bởi dự báo sẽ dư thừa cung trên toàn cầu trong niên vụ 2017/18.
Triển vọng nhập khẩu đường của Ấn Độ ngày càng trở nên mù mịt, trong khi Trung Quốc đang xem xét đánh thuế chống phá giá đối với đường nhập khẩu.
Với cà phê, giá arabica giao tháng 7 giảm 1,7 US cent hay 1,3% xuống 1,307 USD/lb, sau khi có lúc xuống mức thấp nhất 10 tháng rưỡi là 1,3015 USD. Robusta giao cùng kỳ hạn giá tăng 13 USD hay 0,7% xuốn 1.929 USD/tấn, sau 5 phiên liên tiếp giảm.
Giá hàng hóa thế giới
Hàng hóa
|
ĐVT
|
Giá
|
+/-
|
+/- (%)
|
Dầu thô WTI
|
USD/thùng
|
49,62
|
+0,06
|
+0,54%
|
Dầu Brent
|
USD/thùng
|
51,82
|
-0,21
|
-0,41%
|
Dầu thô TOCOM
|
JPY/kl
|
35.840,00
|
-160,00
|
-0,44%
|
Khí thiên nhiên
|
USD/mBtu
|
3,25
|
-0,02
|
-0,52%
|
Xăng RBOB FUT
|
US cent/gallon
|
158,01
|
-1,02
|
-0,64%
|
Dầu đốt
|
US cent/gallon
|
153,05
|
-0,62
|
-0,40%
|
Dầu khí
|
USD/tấn
|
464,75
|
-3,75
|
-0,80%
|
Dầu lửa TOCOM
|
JPY/kl
|
47.190,00
|
-220,00
|
-0,46%
|
Vàng New York
|
USD/ounce
|
1.268,20
|
+4,00
|
+0,32%
|
Vàng TOCOM
|
JPY/g
|
4.514,00
|
+3,00
|
+0,07%
|
Bạc New York
|
USD/ounce
|
17,49
|
+0,05
|
+0,31%
|
Bạc TOCOM
|
JPY/g
|
62,40
|
-0,80
|
-1,27%
|
Bạch kim giao ngay
|
USD/t oz.
|
949,93
|
-0,77
|
-0,08%
|
Palladium giao ngay
|
USD/t oz.
|
811,40
|
+0,31
|
+0,04%
|
Đồng New York
|
US cent/lb
|
259,05
|
-1,00
|
-0,38%
|
Đồng LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
5.715,00
|
+9,00
|
+0,16%
|
Nhôm LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
1.964,50
|
+1,50
|
+0,08%
|
Kẽm LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
2.626,00
|
+20,50
|
+0,79%
|
Thiếc LME 3 tháng
|
USD/tấn
|
19.910,00
|
+285,00
|
+1,45%
|
Ngô
|
US cent/bushel
|
366,50
|
-0,25
|
-0,07%
|
Lúa mì CBOT
|
US cent/bushel
|
427,00
|
+0,50
|
+0,12%
|
Lúa mạch
|
US cent/bushel
|
219,75
|
-1,75
|
-0,79%
|
Gạo thô
|
USD/cwt
|
9,44
|
+0,01
|
+0,11%
|
Đậu tương
|
US cent/bushel
|
958,00
|
+1,50
|
+0,16%
|
Khô đậu tương
|
USD/tấn
|
314,10
|
+0,40
|
+0,13%
|
Dầu đậu tương
|
US cent/lb
|
32,25
|
+0,09
|
+0,28%
|
Hạt cải WCE
|
CAD/tấn
|
521,70
|
+0,10
|
+0,02%
|
Cacao Mỹ
|
USD/tấn
|
1.875,00
|
+23,00
|
+1,24%
|
Cà phê Mỹ
|
US cent/lb
|
130,70
|
-1,70
|
-1,28%
|
Đường thô
|
US cent/lb
|
15,57
|
-0,71
|
-4,36%
|
Nước cam cô đặc đông lạnh
|
US cent/lb
|
159,75
|
+2,70
|
+1,72%
|
Bông
|
US cent/lb
|
79,20
|
-0,19
|
-0,24%
|
Lông cừu (SFE)
|
US cent/kg
|
--
|
--
|
--
|
Gỗ xẻ
|
USD/1000 board feet
|
385,00
|
-7,90
|
-2,01%
|
Cao su TOCOM
|
JPY/kg
|
213,20
|
-5,60
|
-2,56%
|
Ethanol CME
|
USD/gallon
|
1,57
|
-0,01
|
-0,88%
|
Nguồn: VITIC/Reuters, Bloomberg
Nguồn:Vinanet